Liệu Malaysia có đi theo con đường của Đài Loan và Mexico?

Thông tin chi tiết

Bài báo: Will Malaysia Follow The Path of Taiwan And Mexico? (Malaysia có đi theo con đường của Đài Loan và Mexico?)

Tác giả: Joan M. Nelson

Tạp chí: Journal of Democracy, Issue 3, Volume 25

Chuyển ngữ: Minh Anh (Nhóm Tinh Thần Khai Minh)

Hướng dẫn trích nguồn: Joan M. Nelson, “Will Malaysia Follow The Path of Taiwan And Mexico?” (Malaysia có đi theo con đường của Đài Loan và Mexico?, bản dịch của Minh Anh, nhóm Tinh Thần Khai Minh), Journal of Democracy 25 (tháng 7 năm 2014): trang 105 – 119.

Tải về tại đây:

MALAYSIA CÓ ĐI THEO CON ĐƯỜNG CỦA ĐÀI LOAN VÀ MEXICO?

Tác giả: Joan M. Nelson

Chuyển ngữ: Minh Anh [Nhóm Tinh Thần Khai Minh]

 

Joan M. Nelson, là học giả làm việc tại School of International Service thuộc Đại học American, giữ chức chủ tịch Pok Rafeah ban Nghiên cứu quốc tế của Viện nghiên cứu Malaysia và Quốc tế thuộc Đại học quốc gia Malaysia giai đoạn 2006–2007. Bà là đồng biên tập (cùng với Jacob Meerman và Abdul Rahman Haji Embong) tác phẩm Globalization and National Autonomy: The Experience of Malaysia (2008).

Các cuộc bầu cử quốc hội Malaysia vào tháng 5 năm 2013 chứng kiến Tổ chức Quốc gia Malay Thống nhất (UMNO) và liên minh của nó, là Barisan Nasional (BN hay Mặt trận Quốc gia) thua trên toàn quốc. Đảng BN, vốn đã cai trị trong 56 năm, vẫn giữ đa số ghế trong Quốc hội, nhưng xu hướng chung ít nhất từ năm 1999 chỉ rõ hệ thống (đảng) chi phối đang tan rã. Tuy nhiên, (đảng) chi phố vốn đã bị suy yếu đi này không là một sự đảm bảo cho quá trình chuyển đổi dân chủ trong tương lai. Các hệ thống độc tài cạnh tranh đã tăng lên nhanh chóng kể từ đầu những năm 1990, thúc đẩy một loạt các lý thuyết về cách thức và tại sao các hệ thống như vậy lại xuất hiện, tự duy trì, và đôi khi tiến hóa hướng tới một chế độ dân chủ hơn hoặc một chế độ độc đoán tàn bạo hơn. So sánh con đường của Malaysia với con đường của các nước có hệ thống tương tự sẽ làm sáng tỏ hơn các kinh nghiệm gần đây của Malaysia, từ đó giúp kiểm nghiệm và điều chỉnh các lý thuyết liên quan.

Bài viết này tập trung vào tập hợp con của các hệ thống bán độc tài mà Beatriz Magaloni gọi là các chế độ tài đảng chi phối. Các nhà phân tích khác đưa ra các tên gọi và mô tả khác về các chế độ như vậy, nhưng tất cả đều đồng thuận về các đặc điểm chính của các chế độ này: Một đảng đơn nhất hoặc một liên minh nắm giữ quyền lực mà không bị gián đoạn trong nhiều thập kỷ dưới điều kiện bán độc tài trong khi tiến hành các cuộc bầu cử đa đảng thường xuyên. Đảng chi phối kiểm soát cơ quan lập pháp với một đa số đủ để thay đổi hiến pháp theo ý muốn; thâm nhập vào bộ máy quan liêu; kiềm chế các cơ quan tư pháp và phương tiện truyền thông; và kiểm soát các thiết chế có chức năng tổ chức, giám sát, và phân xử các cuộc bầu cử. Đảng chủ yếu được duy trì thông qua việc phân bố các chiến lợi phẩm và bảo trợ.1

Với dạng này, những kinh nghiệm của Mexico và Trung Hoa Dân Quốc (ROC hay Đài Loan) từ những năm 1980 đến năm 2000 là đặc biệt hữu ích trong việc làm sáng tỏ những vận động chính trị hiện nay ở Malaysia và các triển vọng của nó (hoặc do đó) cho sự dân chủ hóa. Ở cả Mexico và Đài Loan, cũng như ở Malaysia, đảng chi phối được thể chế hóa sâu rộng cai trị trong khoảng 50 năm hoặc nhiều hơn. Tuy nhiên, trong tiến trình khoảng 12 năm vào cuối những năm 1980 và 1990, cả hai hệ thống biến đổi thành các nền dân chủ cạnh tranh mặc dù các di sản còn sót lại của sự cai trị độc tài. Có các chế độ độc tài một đảng chi phối được thiết lập lâu đời và tổ chức tốt khác – chẳng hạn, Singapore và Botswana, nhưng chỉ có một vài trong số đó tiến hạnh quá trình chuyển đổi như vậy. Ghana, Hàn Quốc và Indonesia đã thực sự trở thành các nền dân chủ cạnh tranh. Nhưng đảng chi phối của Ghana đã không xuất hiện cho đến đầu những năm 1990, trong khi hệ thống của Hàn Quốc trước năm 1987, hay hệ thống của Indonesia trước cuối những năm 1990 không được đặc trưng bởi một đảng dân sự chi phối thực sự.

Do đó, trường hợp của Mexico và Đài Loan là hứa hẹn nhất để có được một sự hiểu biết tốt hơn về triển vọng cho sự chi phối đang giảm bớt đi ở Malaysia. Sự phản đối ngày càng tăng với đảng chi phối của Malaysia kể từ cuối những năm 1990 giống như mô hình trước đó tại Mexico và Đài Loan, nhưng phản ứng của chế độ Malaysia lại theo một tiến trình khác. Trong khi sự phân chia sắc tộc và tôn giáo của đất nước định hình mạnh mẽ sự tương phản này, một sự phân tích toàn diện hơn cho thấy những sự giải thích thêm. Khảo sát sự tương đồng của ba hệ thống đảng chi phối ở ba quốc gia và những thách thức mà mỗi chế độ đã phải đối mặt, cùng với phản ứng tương ứng của chúng, mang lại con đường tương phản rõ ràng của Malaysia. Điều gì giải thích cho sự phân kỳ này?

 

Những điểm giống nhau

Nguồn gốc và lịch sử ban đầu của các đảng chi phối ở Mexico, Đài Loan, Malaysia là khác nhau. Đảng Cách mạng Thể chế Mexico (PRI) xuất hiện từ giai đoạn cách mạng của đất nước (1910-1920) và cai trị mà không chịu thách thức nghiêm trọng nào trong bảy thập kỷ từ năm 1929. Quốc Dân Đảng (KMT) hình thành ở Trung Quốc đại lục trong những năm đầu thế kỷ XX và rút về Đài Loan vào năm 1949, với khoảng hai triệu người bỏ chạy sau chiến thắng của Cộng sản. UMNO của Malaysia (và liên minh của nó với sự hỗ trợ của các đảng đại diện cho các cộng đồng người Trung Quốc và Ấn Độ thiểu số) được hình thành trước khi kết thúc sự cai trị của thực dân Anh trong giữa những năm 1950.

Mặc dù những khác biệt này, các hệ thống chính trị đã tiến hóa khá tương tự ở nhiều khía cạnh. Các đảng cầm quyền (hoặc, trong trường hợp của Malaysia, là liên minh cầm quyền) chiếm một đa số áp đảo trong cơ quan lập pháp và thâm nhập toàn diện vào bộ máy công vụ, làm mờ đi ranh giới giữa nhà nước và đảng. Nhà nước – đảng cũng kiểm soát phần lớn ngành tư pháp, các phương tiện truyền thông, và các chính quyền bang và địa phương. Tuy nhiên, ngoại trừ một mình Đài Loan, đây không phải là các chế độ độc đảng. Cả Mexico và Malaysia cho phép các đảng đối lập (trừ các đảng cánh tả cấp tiến) vốn thường giành được sự đại diện trong các cuộc bầu cử định kỳ. Đài Loan cấm các đảng đối lập cho đến năm 1987, nhưng được phép sự cạnh tranh của những ứng viên độc lập trong cuộc bầu cử địa phương. Trong cả ba nước, các cuộc bầu cử được dùng để chứng minh sự không thể đánh bại của đảng cầm quyền; cung cấp các kênh được thể chế hóa để quản lý các phe phái và phân bổ các vị trí của chính phủ và đảng; cung cấp thông tin về bạn bè và kẻ thù; đề nghị cho phe đối lập một lựa chọn khác hơn là biểu tình; và củng cố sự chấp nhận của công chúng và giới tinh hoa về tính hợp pháp.2

Sự chiếm đa số của đảng chi phối “phần nào phản ánh sự ưu chuộng thực sự, đặc biệt là trong những năm trước đó. Tại Mexico và Đài Loan, sự ủng hộ rộng rãi ở  nông thôn được đảm bảo đảm từ đầu do các cải cách ruộng đất sâu rộng, thực hiện trong những năm 1930 ở Mexico và 1950 ở Đài Loan. Tại Malaysia, UMNO đã được thiết lập để bảo vệ quyền lợi của người Mã Lai, mà lúc đó phần lớn là nông dân và được hưởng lợi từ các chương trình và chính sách ưu đãi, đặc biệt là sau năm 1969. Phát triển kinh tế nhanh chóng ở cả ba nước giúp duy trì sự ủng hộ ở các thị trấn và thành phố, vốn ngày càng gia tăng.

PRI, Quốc Dân Đảng (KMT), và UMNO tất cả đều xây dựng các tổ chức phức tạp mà mở rộng từ trung ương xuống đến các làng xã. Tất cả đều được thể chế hóa cao độ, thể hiện sự ổn định, tự chủ và kỷ luật ấn tượng. Ở lúc nào đó họ tỏ ra có thể thích nghi, kết nạp (hay trong trường hợp của UMNO, liên minh với) một mảng rộng gồm các nhóm xã hội. Theo thời gian, cả ba đảng ngày càng dựa vào chính sách bảo trợ. Phát triển kinh tế làm gia tăng nguồn lực của họ lên rất nhiều, và việc mở rộng giới công quyền mang lại cơ hội cho việc bổ nhiệm các chức vụ. Các doanh nghiệp nhà nước hay có liên kết với nhà nước, một đặc điểm chính của các nền kinh tế ở cả ba nước, chuyển một nguồn lực lớn cho chính sách bảo trợ của đảng. PRI, Quốc Dân Đảng, và UMNO cũng củng cố sự kiểm soát rộng khắp của họ thông qua trấn áp, gian lận, và bạo lực. Khi cần thiết, những chế độ này đàn áp quyết liệt các cuộc biểu tình thường xuyên quy mô lớn, và phổ biến hơn, là đe dọa, sách nhiễu, bắt giữ, thẩm vấn, và bỏ tù những người chống đối, một số trong số họ chết trong hoàn cảnh đáng ngờ.

Đối lập củng cố, (Đảng) chi phối sảy chân

Đô thị hóa, công nghiệp hóa, giáo dục, thu nhập gia tăng, và một tầng lớp trung lưu ngày càng tham gia vào chính trị đã dần dần bắt đầu làm xói mòn các phương cách kiểm soát chính trị truyền thống. Sự bất bình khác nhau phần nào ở  ba nước. Tại Đài Loan, thiểu số nhỏ những người đại lục và con cháu của họ độc chiếm các vị trí đảng và nhà nước và đàn áp các biểu hiện văn hóa và chính trị của Đài Loan. Những người phản đối chế độ được thúc đẩy bởi cả chủ nghĩa dân tộc Đài Loan lẫn một mong muốn cho các quyền dân chủ – mong muốn được chia sẻ bởi một số người đại lục.3 Tại Malaysia, thiểu số gốc Trung Quốc và Ấn Độ, những người trải qua sự phân biệt văn hóa, phẫn nộ vì địa vị thống trị và những đặc quyền mà người Mã Lai hưởng. Các bang mà người Malay là thiểu số ở Đông Malaysia coi sự kiểm soát của người Mã Lai như tình trạng bán thuộc địa.

Điểm chung của cả ba quốc gia là sự bất bình với tham nhũng trắng trợn, chủ nghĩa thân hữu, và gia đình trị, vốn được đưa ra công khai trong các phương tiện truyền thông độc lập và đối lập. Mặc dù những cuộc đàn áp thường xuyên đối với các phương tiện truyền thông, việc xuất bản đã trở thành một vũ khí đối lập chính tại Đài Loan trong những năm 1970. Tại Malaysia hai thập niên sau đó, các tờ báo điện tử và các bloger đã đóng một vai trò tương tự. Tức giận với tham nhũng kết hợp với một nhu cầu càng tăng cho các cuộc bầu cử trong sạch, được lên tiếng bởi liên minh các tổ chức dân sự như Alianza Civica của Mexico trong những năm đầu 1990, phong trào cải cách Malaysia trong năm 1998 và phong trào Bersih từ năm 2007 đến nay.

Qua nhiều năm, các đảng và các phong trào đối lập đã kiểm soát sự phân chia phe phái và trở nên được tổ chức tốt hơn. Họ đã đạt được kinh nghiệm và uy tín bằng cách chạy đua và chiến thắng trong cuộc bầu cử địa phương. Một số ban đầu được coi là “cấp tiến” vì lệch khỏi các quan điểm trung tâm về các vấn đề quan trọng, mặc dù những vấn đề khác nhau giữa các nước. Khi những bước đầu tiên hướng tới tự do hóa làm cho sự thành công bầu cử trở thành một mục tiêu khả thi hơn, các lực lượng đối lập nhìn chung đã sử dụng các quan điểm ôn hòa hơn. Đến năm 1990, sự ôn hòa thực dụng trong Đảng Hành động Quốc gia trung hữu của Mexico (PAN) thúc đẩy việc bỏ đi các yếu tố xưa cũ, và giáo điều. Vào cuối những năm 1980, những người cấp tiến đang thúc giục Đảng Dân Tiến mới được hợp pháp hóa của Đài Loan (DPP) thông qua mục tiêu độc lập chính thức cho Trung Hoa Dân Quốc, một quan điểm khiến DPP trả giá cho các cuộc bầu cử vào năm 1991, khiến sau đó nó sử dụng một quan điểm ít gay gắt hơn.4 Tại Malaysia, các chiến binh trong Đảng Hồi giáo của Malaysia (PAS) đã giải thích thành tựu bầu cử lớn trong năm 1999 như là một sự ủy nhiệm để thúc đẩy Hồi giáo hóa. Tuy nhiên, lập trường đó đã dẫn đến những tổn thất đáng kể trong năm 2004, và PAS trở nên ôn hòa hơn sau đó.

Bất chấp những nỗ lực của họ, các đảng đối lập cố gắng đến gần các vị trí mà chống lại sự chi phối. Các đảng chi phối thường có các quan điểm trung dung, đẩy phe đối lập đến với các quan điểm cực đoan hơn. Do đó PAN tại Mexico phản ánh các lợi ích chính trị và kinh tế bảo thủ, trong khi Đảng Cách mạng Dân chủ (PRD) đại diện cho các nhóm dân túy hơn. Tại Đài Loan, DPP đã được xây dựng trên sự bất bình của người dân bản địa, trong khi Đảng Mới thúc đẩy cho các mục tiêu của người đại lục như thống nhất đất nước. Tại Malaysia, Đảng Dân chủ hành động thế tục (DAP) đã thu hút sự không hài lòng của tầng lớp trung lưu và người Trung Quốc thiểu số, trong khi PAS yêu sách cho các đòi hỏi của Malay về một sự quản trị Hồi giáo thuần khiết hơn. Thống nhất các đảng đối lập khác nhau được chứng minh là bất khả thi ở Mexico và Đài Loan trong cuộc bầu cử năm 2000. Tại Malaysia, một đảng mới (mà sau này trở thành Đảng Công lý của Nhân dân hay PKR) được thành lập vào năm 1999 và gia nhập với DAP và PAS thành một liên minh đa sắc tộc được gọi là Mặt trận Thay thế (mà sau này trở thành Pakatan Rakyat – PR hay Liên minh nhân dân). Những liên minh hầu như không thể xảy ra này đã được thống nhất trong sự tìm kiếm của họ cho sự quản trị tốt. Mặc dù Mặt trận Thay thế cho thấy ít thành công trong các cuộc bầu cử, PR kế tục tạo ra các thành tựu ấn tượng trong các cuộc bầu cử năm 2008 và 2013, khi UMNO dịch chuyển từ chiến lược trung dung ban đầu của nó đến những lời kêu gọi mang tính dân tộc Malay và Hồi giáo cấp tiến hơn.

Khi các đảng đối lập và các liên minh đang trở nên mạnh hơn và gắn kết hơn, thì các đảng chi phối dần tan vỡ. Tại Mexico, các thành viên PRI, những người phản đối các biện pháp (được thực hiện để quản lý cuộc khủng hoảng nợ năm 1980) mà gây tổn hại cho người nghèo, đã thành lập phe Dòng Dân chủ (DC), dẫn đầu bởi Cuauhtémoc Cárdenas Solorzano. Năm 1987, DC chính thức tách khỏi PRI. Năm sau, Cárdenas tranh cử tổng thống và bị đánh bại suýt soát, và có lẽ do bị gian lận. DC tiếp tục đi đến hình thành PRD, vốn trở thành đảng lớn thứ ba của Mexico.

Tại Đài Loan, những người lục địa bảo thủ trong Quốc Dân Đảng đã bị làm cho thất vọng với những cải cách vào cuối những năm 1980 và đầu 1990, vốn làm mờ đi sự kiểm soát của người đại lục đối với đảng-nhà nước, và họ xem bất cứ chính sách nào đối với nước Trung Hoa Dân Quốc (PRC) khác hơn là sự thống nhất dưới sự cai trị của Quốc Dân Đảng là một sự phản bội. Năm 1993, các phần tử bất mãn của Quốc Dân Đảng thành lập Đảng Mới, và thúc đẩy hơn sự chia rẽ sau đó. Tại Malaysia, một sự chia rẽ lớn trong UMNO vào cuối những năm 1980 đã kết thúc với sự ly khai của phe thách thức. Một thập kỷ sau, khi Thủ tướng Mahathir Mohamad (1981-2003) sa thải phó thủ tướng của ông và chỉ định người kế nhiệm là Anwar Ibrahim, một vài đảng viên tích cực của UMNO đã bỏ đảng. Tuy nhiên sự miễn nhiệm Anwar, đã dẫn đến hình thành đảng tiền nhiệm của PKR, Đảng Công lý Quốc động chính gia, và cuối cùng một sự chuyển động chính trị mà sẽ lấy đi các đối tác liên minh không phải người Malay của UMNO.

Kenneth Greene cho rằng một lý do chính tại sao các đảng chi phối mất đi quyền lực là sự kiểm soát ngày càng giảm của họ đối với các nguồn lực để bảo trợ. Chẳng hạn, Greene lưu ý rằng ở Mexico các doanh nghiệp nhà nước đã đóng góp 22,3 phần trăm GDP vào năm 1983, nhưng tư nhân hóa đã giảm bớt tỷ lệ này xuống còn 5,5 phần trăm vào năm 2000. Lực lượng lao động liên bang Mexico đã bị giảm từ hơn 3 triệu trong những năm 1980 tới chỉ còn hơn một triệu vào năm 2000, trong khi lực lượng lao động trong các doanh nghiệp nhà nước giảm từ 1,1 triệu xuống còn khoảng 476 nghìn.5 Tuy nhiên, mặc dù các chỉ số này, những người khác lưu ý rằng PRI vẫn còn một lợi thế tài chính khổng lồ suốt những năm 1990 thông qua bòn rút tiền của Nhà nước và chấp nhận những đóng góp kinh doanh trái phép khá lớn.

Trong cùng thập niên đó, đảng cầm quyền của Đài Loan điều hành một đế chế kinh doanh rộng lớn, ban phát tín dụng, giấy phép, nhượng bộ, và hợp đồng để đổi lấy tiền từ các công ty tư nhân,6 và thể hiện sự giàu có của nó với các trụ sở mới xa hoa. Vào cuối những năm 1990, chi tiêu quá mức của đảng đã gây ra sự tức giận lớn đến nền chính trị “vàng – đen” (tham nhũng).

Giống như PRI và Quốc Dân Đảng, UMNO có nhiều tiền hơn để sử dụng so với các đối thủ cạnh tranh của nó. Các chiến dịch tranh cử năm 2013 được báo cáo là tốn kém nhất trong lịch sử Malaysia.7 Ngân sách đảng của UMNO tăng lên từ đóng góp (khó lần ra) từ các công ty liên kết với nhà nước và các công ty tư nhân vốn được hưởng lợi từ sự nhượng bộ hào phóng của chính phủ và có thể từ các nguồn vẫn còn ẩn giấu. Bằng chứng từ việc làm là chính xác hơn. Khu vực công tăng từ 800.000 việc làm trong năm 2003 tới 1,2 triệu vào năm 2011.8

Các phản ứng của Chế độ

Mặc dù những thách thức phải đối mặt bởi PRI, Quốc Dân Đảng, và UMNO là tương tự, song phản ứng của chế độ Malaysia thì khá khác. Con đường của Mexico đến nền chính trị cạnh tranh kéo dài một phần tư thế kỷ, ban đầu thông qua các nhượng bộ từ trên xuống và sau đó thông qua thương lượng giữa các đảng. Năm 1976, các đảng đối lập nhỏ tẩy chay cuộc bầu cử tổng thống rõ ràng không công bằng. Xấu hổ, chế độ hợp pháp hóa một số đảng nhỏ hơn, mở rộng Viện đại biểu (Hạ viện của Quốc hội), dành một phần tư số ghế của nó cho các đảng thiểu số, và cung cấp tất cả các đảng sự tiếp cận vừa phải với thời gian phát thanh và truyền hình miễn phí. Những biện pháp này được thiết kế để thúc đẩy sự xuất hiện của sự cạnh tranh công bằng trong khi chuyển các nỗ lực của phe đối lập vào trong phạm vi có thể kiểm soát dễ dàng.

Vào thời điểm đó, giới tinh hoa PRI hi vọng việc phát hiện ra dầu lúc đó mang lại sự thịnh vượng. Song thay vào đó, vào năm 1982 Mexico bị vỡ nợ, và nhiều thập kỷ bị khuấy động bởi cuộc khủng hoảng kinh tế. Sức mạnh ngày càng tăng của PAN thể hiện rõ ràng từ chiến thắng của nó trong các cuộc bầu cử thành phố vào năm 1982; sự gia tăng bất mãn của dân chúng thể hiện ở các cuộc biểu tình chống tham nhũng và gian lận sau các cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 1985 và cuộc bầu cử địa phương năm 1986. Đồng thời, chính sách thắt lưng buộc bụng, tư nhân hóa, và các cải cách tân tự do khác đe dọa các lợi ích của PRI và gây chia đảng cầm quyền, mà lên đến đỉnh điểm là sự chia tách đảng vào năm 1987. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1988, ứng cử viên PRI chỉ giành được vừa hơn 50 phần trăm số phiếu, và lần đầu tiên PRI không giành được hai phần ba tổng số ghế trọng Hạ viện. Nhiều người cho rằng cuộc bầu cử đã bị gian lận do một số bất thường, và cuộc biểu tình gần dẫn tới bạo động kéo dài nhiều tháng xảy ra sau đó.

Để đáp lại, PRI thực hiện thay đổi quá trình bầu cử và sắp xếp đại diện để giữ được sự kiểm soát trong khi làm dịu sự phe đối lập. Trong thập kỷ tiếp, các cuộc đàm phán với các đảng đối lập ngày càng mạnh đã giới thiệu những cải cách tiến bộ hơn nữa, mở rộng các cơ quan lập pháp, giảm sự đại diện quá mức của PRI, và thiết lập một Viện Bầu cử Liên bang để giám sát các cuộc bầu cử. Ban đầu do PRI kiểm soát, song tính tự chủ và quyền hạn của Viện tăng đều đặn trong suốt những năm 1990. Việc gây được quỹ công lớn hơn của các đảng, các giới hạn chi tiêu của chiến dịch, và cải thiện tiếp cận với các phương tiện truyền thông tiếp tục làm phẳng sân chơi.9

Rất nhiều người trong đảng phản đối các biện pháp này. Số lượng của tri phổ thống của PRI đã giảm đáng kể trong những năm 1990, và các nhà lập pháp hoàn toàn chính đáng khi lo sợ về sự thất bại cuối cùng. Thật vậy, năm 1997 PRI giành được ít hơn một nửa số ghế trong hạ viện và chỉ có 40 phần trăm số phiếu phổ thông. Cùng năm đó, ứng cử viên Cárdenas của PRD được bầu làm người đứng đầu chính quyền của Quận Liên Bang Mexico. Cả PRD và PAN chiến thắng nhiều bang và thành phố. Việc bầu chọn người đứng đầu của PAN Vicente Fox làm tổng thống vào năm 2000 đã hoàn thành tiến trình và chắc chắn thay đổi sự vận động chính trị của Mexico.

Tại Đài Loan, con đường đi đến nền chính trị cạnh tranh quốc gia đòi hỏi hai biến đổi sâu sắc – một sự thay đổi trong quan niệm của Quốc Dân Đảng về sứ mệnh của nó và mối quan hệ với người Đài Loan, được theo sau bởi một sự tái tổ chức lại sự cạnh tranh bầu cử. Quốc Dân Đảng đã coi chính nó kể từ năm 1949 là chính phủ hợp pháp đang chờ đợi của Trung Quốc đại lục. Nó xem Đài Loan chỉ đơn giản là một tỉnh ngoại vi – mà đảng tạm thời trú ẩn – nơi mà quân luật và sự đàn áp tàn nhẫn đối với phe đối lập là cần thiết cho các cuộc chiến tranh sắp diễn ra với những người Cộng sản đại lục.

Đến năm 1970, sự thay đổi từ quốc tế và áp lực chính trị trong nước đã thuyết phục các nhà lãnh đạo trẻ của Quốc Dân Đảng rằng đảng cần có cơ sở mạnh mẽ hơn trong dân chúng Đài Loan. Khi Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch qua đời năm 1975 sau 25 năm nắm quyền, ông được kế nhiệm bởi con trai mình Tưởng Kinh Quốc (CCK), người tiến hành những bước đi để giảm bớt sự thống trị của người đại lục ‘trong Đảng và Quốc hội. CCK đề cử các ứng cử viên trẻ và được giáo dục tốt hơn cho các cơ quan địa phương, nhấn mạnh các cuộc bầu cử, và giảm bớt đàn áp các ấn phẩm và các hoạt động chống đối.

Các đối thủ của chế độ tăng cường các nỗ lực vận động và phối hợp trong suốt những năm 1970. Quốc Dân Đảng phản ứng với một sự kết hợp của đàn áp và nhượng bộ khi tạo ra Ủy ban Bầu cử Trung ương năm 1980. Sự bổ nhiệm đáng ngạc nhiên của CCK đối mới một nhà kỹ trị Đài Loan bản địa Lee Teng-hui làm thủ tướng vào năm 1984 đẩy mạnh hơn nữa sự chuyển đổi của Quốc Dân Đảng. Khi phe đối lập thành lập DPP vào tháng 9 năm 1985, bất chấp lệnh thiết quân luật, CCK đã không đưa ra biện pháp nào chống lại đảng mới này. Hai năm sau, ông chấm dứt thiết quân luật, do đó làm cho các đảng đối lập (trừ các đảng cộng sản) trở nên hợp pháp. Khi CCK chết vào năm 1988, Lee Teng hui trở thành tổng thống của Trung Hoa Dân Quốc và đứng đầu Quốc Dân Đảng. Tuy nhiên, hệ thống chính trị cạnh tranh mới của Đài Loan vẫn còn xa mới được coi là công bằng. Sau các cuộc biểu tình sinh viên lớn vào năm 1990, các cải cách tiếp tục – điều, như ở Mexico, trở nên ít từ trên xuống và nhiều tư vấn hơn – dẫn đến các cuộc bầu cử lập pháp trực tiếp và, vào năm 1996, cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp đầu tiên được tổ chức.

Mặc dù lợi thế lớn của Quốc Dân Đảng trong việc gây quỹ cũng như kiểm soát đối với các phương tiện truyền thông và giới quan liêu, DPP thường thực hiện tốt trong các cuộc bầu cử địa phương. Nhưng nó đã cố gắng để giành được hơn 40 phần trăm số phiếu phổ thông. Tuy nhiên, đến cuối thập kỷ, sự tức giận của công chúng về tham nhũng và cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, cũng như sự chia rẽ trong nội bộ đảng cầm quyền đã khiến DPP giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống vào năm 2000.

Các cuộc bầu cử năm 2000 ở Đài Loan và Mexico đã không kết thúc cuộc đấu tranh lâu dài để dân chủ hóa hệ thống chính trị của họ. Nhưng sự thất bại bầu cử chưa từng thấy của các đảng từng thống trị đã thay đổi sâu sắc bối cảnh chính trị ở cả hai nước. Một câu chuyện khác nhau diễn ra tại Malaysia.

Các khuynh hướng độc tài được tăng cường ở Malaysia trong suốt nhiệm kỳ của Mahathir, đặc biệt sau khi ông vượt qua các nỗ lực gây chia rẽ đảng vào cuối những năm 1980. Trong những năm 1990 cho thấy sự kiểm soát chặt chẽ hơn của đảng đối với các dịch vụ dân sự và tòa án, làm sâu sắc thêm tham nhũng và chủ nghĩa thân hữu, và Hồi giáo hóa ngày càng hiếu chiến hơn (phần lớn được thúc đẩy bởi mong muốn của UMNO để vượt qua PAS để giành sự ủng hộ từ vùng đông bắc kém phát triển). Những xu hướng này, cộng thêm cuộc khủng hoảng tài chính châu Á và sự thành công của phong trào cải cách của Indonesia, làm cho sự bất mãn lan rộng. Mahathir sa thải Anwar vào năm 1998, và Anwar nhanh chống kích động và tổ chức phe đối lập. Chỉ trong vài tuần sau khi bị sa thải, ông tổ chức một cuộc biểu tình đòi cải cách với hơn 200.000 người ở Kuala Lumpur và đã bị bắt giữ ngay đêm đó. Bị xét sử và kết tội giao hợp qua hậu môn với các bằng chứng không rõ ràng, Anwar đã bị bỏ tù cho đến năm 2004. Không giống như sự chia tách trong PRI năm 1987 và Quốc Dân Đảng năm 1993, không có phe phái lớn trong UMNO bỏ đảng cùng với Anwar. Những người đồng cảm tình sợ mất đi sự bảo trợ và nhớ lại số phận của các đối thủ của Mahathir vào cuối những năm 1980. Và, trên thực tế, các chính trị gia và các doanh nhân biết ủng hộ cho Anwar sẽ sớm muộn bị bắt giữ,và không xét xử theo Đạo Luật An ninh Nội.10

Liên minh đối lập mới ra đời, bây giờ do vợ Anwar dẫn dắt, tuy nhiên đã thành công trong việc giành khoảng 40 phần trăm số phiếu phổ thông trong các cuộc bầu cử năm 1999 và gần một phần năm của ghế trong quốc hội (gần hai phần ba trong số này đến từ PAS). Một liên minh không dễ dàng của DAP chủ yếu là người Trung Quốc, PAS Malay hồi giáo, và đảng đa sắc tộc mới của Anwar, liên minh sụp đổ vào tháng 9 năm 2001 khi DAP rút khỏi các cuộc biểu tình vì các yêu sách Hồi giáo của PAS. Tuy nhiên, sự phản đối của công chúng với chế độ, ngày càng được thể hiện trực tuyến, tiếp tục sôi sục. UMNO tấn công lại, đặc biệt nhắm đến các tổ chức người Trung Quốc cải cách. Năm 2003, BN vẽ lại các quận bầu cử và thêm 26 ghế mới trong quốc hội (cộng thêm nhiều ghế hơn nữa trong các cơ quan lập pháp bang) trong các thành trì của BN để tối đa hóa sự kiểm soát của liên minh cầm quyền.

Vào tháng 10 năm 2003, Mahathir nghỉ hưu và phó thủ tướng Abdullah Badawi, trở thành thủ tướng. Lúc đầu, dường như Abdullah sẽ mở ra một kỷ nguyên mới. Ông hứa sẽ kiềm chế tham nhũng và cải cách lực lượng cảnh sát trong khi duy trì sự ổn định chính trị và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và ông đề nghị một giải pháp ôn hòa đối với đòi hỏi của người Hồi giáo vũ trang. Phong cách hòa nhã và hứa hẹn cải cách của Abdullah, cùng với tình trạng hỗn loạn của phe đối lập, tạo ra một chiến thắng lớn cho chế độ trong các cuộc bầu cử năm 2004. BN đã giành được gần 64 phần trăm số phiếu phổ thông và hơn 90 phần trăm số ghế trong Quốc hội.

Tuy nhiên, những cải cách sớm bị ngăn chặn. Các quan chức cảnh sát cấp cao đã phong tỏa Independent Police Complaints and Misconduct Commission do Abdullah đề xuất và các chính trị gia BN đập tan các nỗ lực để giảm bớt tham nhũng. Trích dẫn các ràng buộc ngân sách, Abdullah đã hủy bỏ nhiều dự án hạ tầng lớn mà Mahathir đã phát động, kích động sự chỉ trích dữ dội từ những chính khách cũ. Sự căng thẳng sắc tộc và tôn giáo bùng phát. Mối đe tiềm ẩn của bạo lực chống lại người Malaysia gốc Trung Quốc và Ấn Độ đựa đưa ra ở hội nghị hàng năm vào năm 2005 và 2006 của UMNO, bất chấp lời hứa của Abdullah để giảm bớt chính trị phân biệt chủng tộc. Abdullah đã không thể kiềm chế những người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan và các thủ lĩnh quân phiệt của UMNO vốn đang cạnh tranh để kiểm soát các nguồn tài nguyên.

Trong khi đó, sự kết tội quan hệ qua hậu môn đối với Anwar đã bị lật ngược bởi một kháng cáo, và ông đã được tự do vào năm 2004. Trong vài năm tiếp theo, Anwar làm hồi sinh PKR và mở rộng hợp tác với PAS và DAP, các đối tác được ràng buộc với nhau bởi những mong muốn cho một hệ thống công bằng hơn và cởi mở hơn, chính phủ trong sạch hơn, một nền pháp quyền mạnh mẽ, và sự phát triển kinh tế được chia sẻ rộng rãi hơn. Một loạt các cuộc biểu tình chưa từng có quét qua Kuala Lumpur vào năm 2007, bao gồm cả một cuộc tuần hành của các luật sư chống lại việc mua bán sự bổ nhiệm thẩm phán; một cuộc biểu tình của người Malaysia gốc Ấn Độ chống lại sự quấy rối đối với những ngôi đền Hindu và bỏ bê những người Ấn Độ nghèo đói; và một “cuộc tuần hành vì dân chủ” được Bersih tổ chức, vốn thu hút khoảng năm mươi ngàn người tham gia.

Các cuộc bầu cử năm 2008 là một bước ngoặt quan trọng. Vượt qua tất cả sự mong đợi, PR giành được 82 trong 222 ghế trong Quốc hội, lấy đi của BN đa số 2/3 mà nó từng có, hầu như không bị gián đoạn, kể từ năm 1957 và giành được chính quyển của năm trong số mười ba bang của Malaysia. Mặc dù các đồng minh của UMNO ở Sarawak trên đảo Borneo thắng lợi, UMNO mất 30 ghế và các đối tác liên minh truyền thống của nó sụp đổ.

Các nhà lãnh đạo UMNO đổ lỗi cho sự thất bại lớn này lên sự lãnh đạo yếu kém của Abdullah. Bị lên án gay gắt bởi Mahathir và phe của ông ta, Abdullah đã được thay thế bởi Najib Razak vào tháng 4 năm 2009. Najib, một nhà kinh tế được đào tạo bài bản, công bố các kế hoạch và các sáng kiến đầy tham vọng để cải thiện nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, và thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Nhưng cách mà chế độ vận hành thay đổi rất ít. Những người chủ trương sự tối cao của người Malay đã thành lập một tổ chức bảo trợ mới gọi là PERKASA; những người cấp tiến về tôn giáo có dịp mang trường hợp shari’acourt để khẳng định thẩm quyền Hồi giáo trong các tranh chấp trong gia đình. Trong bối cảnh này, sáng kiến một “Malaysia” của Najib để thúc đẩy đoàn kết quốc gia và hòa hợp dân tộc trở nên giả dối.

Tập trung vào việc giành lại hai phần ba đa số ở quốc hội, chính phủ một lần nữa thay đổi ranh giới các huyện và thay đổi các quy tắc bầu cử, tiếp tục gia tăng sự đại diện của  các quận nông thôn, mà chủ yếu là người Malay sinh sống. Đảng-nhà nước cũng tăng lương công chức, thực hiện các chương trình phúc lợi rộng lớn, và tiếp tục quấy rối các nhà hoạt động – bao gồm cả các hành động pháp lý mới chống lại Anwar.11

Trong khi đó, liên minh đối lập đã tạo ra một nền tảng chung và giành được sự tín nhiệm thông qua sự quản trị hiệu quả các bang phát triển nhất của Malaysia, Penang và Selangor. Trong khi chính phủ quốc gia tiếp tục kiểm soát hầu hết các tờ báo và đài phát thanh và truyền hình, bao giờ nhiều hơn các phương tiện truyền thông trực tuyến công khai sự sách nhiễu của chính phủ đối với những người không phải Hồi giáo, sự đe dọa các nhà hoạt động đối lập, và các trường hợp tham nhũng lớn. Các cuộc biểu tình Bersih yêu cầu cải cách bầu cử một lần nữa thu hút sự ủng hộ to lớn của mọi sắc tộc trong các năm 2011 và 2012.

Khi cuộc tổng tuyển cử được tổ chức vào ngày 05 tháng 5 năm 2013, UMNO và các đồng minh đã chỉ giành được 47 phần trăm số phiếu phổ thông (và chỉ có 43 phần trăm trên bán đảo), mặc dù họ vẫn giữ gần như 60 phần trăm số ghế trong Quốc hội. Đáng chú ý, phe đối lập giành được khoảng hai phần năm số phiếu của người Malay. Các đối tác truyền thống của UMNO – Hiệp hội người Malaysia gốc Trung Quốc và Quốc hội Malaysia gốc Ấn – hầu như biến mất. Đa số cai trị mới phụ thuộc vào một số đảng ở các bang Borneo của Sarawak và Sabah, cũng như sự hỗ trợ truyền thống của người Malay ở nông thôn trên bán đảo.

Sự vận động của nền chính trị của Malaysia đã thay đổi: Nó bây giờ là một cuộc chiến giữa hai liên minh. Nhưng các huyện được sắp xếp gian lận để giành phần thắng (cho đảng cai trị) làm cho rất khó để phe đối lập giành quyền kiểm soát Quốc hội. Sự sách nhiễu và đàn áp của chính phủ với phe đối lập tiếp tục. Vào đầu năm 2014, chính phủ đã tuyên bố Liên minh của Malaysia NGO (Comango) là một tổ chức bất hợp pháp trên với lý do nó thúc đẩy các quyền được coi là không phù hợp với đạo Hồi và phần lớn 54 thành viên của nhóm đã bị cáo buộc chưa đăng ký. Vào tháng 3 năm 2014, Tòa án Tối cao Lumpur Kuala quyết định rằng Chủ tịch DAP Karpal Singh phạm tội đưa ra các phát biểu xúi giục nổi loạn chống lại một trong những quốc vương truyền thống của Malaysia, một phán quyết yêu cầu một khoảng tiền phạt lớn và đe dọa ghế chủ tịch Quốc hội. 12 Một vài ngày trước đó, Tòa phúc thẩm lật ngược phán quyết của tòa án thấp hơn và một lần nữa tuyên bố Anwar phạm tội quan hệ qua hậu môn và kết án ông ít nhất là năm năm tù dù các bằng chứng hết sức gây tranh cãi. Tóm lại, không có dấu hiệu của một sự cởi mở.

Giải thích các quỹ đạo tương phản

Sự nắm quyền lực liên tục của UMNO có vẻ như tuyệt đối. Một tổ chức đảng mạnh mẽ với nguồn bảo trợ bao la đối đầu với một phe đối lập có sự tín nhiệm mong manh trong một đấu trường bầu cử rõ ràng là không công bằng. Tuy nhiên, các mô tả tương tự áp dụng cho cả Mexico và Đài Loan vào giữa những năm 1980. Bốn yếu tố quan trọng đã khiến Malaysia đi một con đường khác với Mexico và Đài Loan: 1) các ảnh hưởng quốc tế và những cân nhắc chính sách đối ngoại; 2) chia rẽ sắc tộc và tôn giáo; 3) nhận thức và giải thích của giới tinh hoa trong đảng chi phối; và 4) quyền lực trong nội bộ đảng của các nhà cải cách”.

Theo Steven Levitsky và Lucan Way, ảnh hưởng quốc tế là một lý do chính tại sao các chế độ độc tài cạnh tranh đi theo những con đường khác nhau. Dựa trên nghiên cứu của họ về 35 chế độ như vậy kể từ khi đầu những năm 1990, các tác giả kết luận rằng chế độ có các quan hệ kinh tế, văn hóa, xã hội sâu rộng với các cường quốc phương Tây có nhiều khả năng để dân chủ hoá, thậm chí nếu các các thiết chế nhà nước và đảng phái độc tài rất mạnh. Tác động dân chủ hóa từ bên ngoài cũng có thể làm sụp đổ các chế độ với nhà nước và các đảng chi phối yếu ngay cả khi liên kết của họ với phương Tây là không mạnh, nhưng sự bền vững của nền dân chủ trong các trường hợp như vậy thường không chắc chắn. Các chế độ độc tài cạnh tranh được thể chế hóa mạnh ít liên kết với phương Tây hầu như có khả năng tồn tại cao nhất.13

Ảnh hưởng quốc tế tác động đến sự dân chủ hóa Mexico mạnh mẽ nhưng phần lớn là gián tiếp. Sự tụt giảm của PRI đã được đẩy mạnh bởi cuộc khủng hoảng nợ của Mexico vào đầu những năm 1980 và chính sách thắt lưng buộc bụng và các chính sách điều chỉnh về cấu trúc được thực hiện bởi chế độ. Các cải cách kinh tế và chính trị của PRI không bị thúc đẩy quá nhiều bởi áp lực trực tiếp từ Hoa Kỳ hay IMF như chúng chịu ảnh hưởng bởi các mối liên kết qua lại phức tạp giữa thương mại và đầu tư, di cư và du lịch, và các mối liên kết giữa kỹ nghệ và xã hội dân sự liên quốc gia.14 Tuy vậy, đầu những năm 1990, cuộc đàm phán về Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) đã đề ra các yêu cầu trực tiếp từ các liên đoàn lao động Hoa Kỳ và một số thượng nghị sĩ về việc cải cách Mexico.

Tại Đài Loan, bối cảnh quốc tế đang thay đổi đóng vai trò trung tâm trong việc thúc đẩy sự dân chủ hóa. Năm 1971, Trung Quốc Cộng sản đã thay thế vị trí Trung Hoa Dân Quốc tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc và Hội đồng Bảo an. Năm 1979, Hoa Kỳ đã chuyển sự công nhận của nó từ Trung Hoa Dân Quốc sang Trung Quốc Cộng sản, chính thể mà giờ đây tìm cách tái thống nhất trong hòa bình với Đài Loan. Các cải cách của Đặng Tiểu Bình năm 1980 ở lục địa đã cải thiện nhận thức quốc tế về Trung Quốc, trong khi hệ thống độc tài của Đài Loan đã thu hút sự chỉ trích ngày càng tăng từ nước ngoài. Levitsky và Way mô tải sự cởi mở chính trị của Đài Loan như “bắt nguồn không phải từ sự lãnh đạo mà đúng hơn là từ vị trí quốc tế đặc biệt của Đài Loan.”15

Ngược lại, các quan điểm và áp lực quốc tế ít ảnh hưởng đến nền chính trị của Malaysia. Các chính phủ và các doanh nghiệp phương Tây từ lâu xem Malaysia như một pháo đài ổn định về chính trị của sự hài hòa sắc tộc và Hồi giáo ôn hòa vốn thân thiện với giới đầu tư tư nhân nước ngoài. Mahathir thường bày tỏ tình cảm chống Mỹ và chống Israel, nhưng hợp tác với Hoa Kỳ về một số vấn đề an ninh. Trong khi các nước phương Tây đôi khi thể hiện khó chịu với các hành động nặng tay của chính phủ Malaysia hoặc các bất thường bầu cử, các cân nhắc về địa chính trị thường chiến thắng các quan ngại về nhân quyền và dân chủ. Hoa Kỳ chấp nhận tức thì các kết quả của cuộc bầu cử năm 2013, và tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama không cho thấy sự không hài lòng trong chuyến thăm đến Malaysia vào tháng 4 năm 2014.

Chia rẽ sắc tộc và tôn giáo sâu sắc của Malaysia cũng phân biệt nó với hai trường hợp kia. Tại Đài Loan, căng thẳng giữa người đại lục – người bản địa định hình nền chính trị từ những năm 1970 về sau, nhưng sự chia tách này làm suy yếu hơn là củng cố sự thống trị của Quốc Dân Đảng. Ban đầu chỉ chiếm 14 phần trăm dân số, những người đại lục đã trở thành một thiểu số đang già hóa và co lại, mà con cháu của họ ngày càng kết hôn với nhóm đa đa số. Tại Malaysia, người Malay Hồi giáo là một đa số hẹp nhưng ngày càng tăng, và sự phân chia tồn tại mãi một phần do những khó khăn của việc kết hôn giữa người Hồi giáo và người không theo Hồi giáo. Căng thẳng sắc tộc là yếu tố quan trọng trong việc duy trì chế độ, đặc biệt là thông qua sự nuôi dưỡng liên tục của UMNO đối với nỗi sợ hãi của người Malay về sự chiếm quyền lực của những người Malaysia gốc Trung Quốc và những người không theo đạo Hồi, và thông qua các khó khăn trong việc duy trì một lực lượng đối lập thống nhất đáng tin cậy.

Ngay cả trước khi độc lập, UMNO vật lộn với một sự chia rẽ nội bộ – giữa những người bảo vệ và thúc đẩy cộng đồng Malay và Hồi giáo và những người bảo vệ một nhà nước đa sắc tộc cam kết với sựu phát triển kinh tế và xã hội. Các cuộc bạo loạn sắc tộc những năm 1969 và Chính sách kinh tế mới được thông qua dường như là một phản ứng để hòa giải các mục tiêu của hành động khẳng định Malay và tăng trưởng kinh tế cho đến những năm 1990. Nhưng sau đó sự ưu tiên cho người Mã Lai đã trở nên gắn chặt sâu sắc với chủ nghĩa thân hữu và tham nhũng. Mặc dù các nhà lãnh đạo UMNO, bao gồm Mahathir, liên tục tuyên bố các sáng kiến cấp cao nhằm thúc đẩy sự hòa hợp chủng tộc, các cuộc tấn công bằng lời nói và sự sách nhiễu các dân tộc thiểu số và phi Hồi giáo tăng lên trong những năm 2000 và đặc biệt là sau năm 2008, và thường được chấp nhận chính thức. Khi UMNO ngày càng trở nên ủng hộ Malay và Hồi giáo hơn, các đảng đối tác của cộng đồng người Malaysia gốc Trung Quốc và Ấn Độ của nó rút lui, phủ nhận tuyên bố đa sắc tộc của BN và nâng các ràng buộc liên minh đối với các hành động của UMNO. Các nhóm lợi ích thân hữu luôn luôn cản trở cải cách, nhưng ở Malaysia căng thẳng sắc tộc và tôn giáo củng cố sự đề kháng này, làm cho sự nhượng bộ khó khăn hơn.

Ở cả Mexico và Đài Loan, các bước đầu tiên hướng tới làm phẳng sân chơi đã được thực hiện chủ yếu bởi giới tinh hoa đảng. Tuy nhiên, tại Malaysia hai thập kỷ sau đó, giới tinh hoa UMNO vẫn hết lòng duy trì nguyên trạng. Việc giới tinh hoa lựa chọn tiến hành hoặc chống lại các cải cách được quyết định bởi cách họ nhìn nhận các áp lực và khuyến khích và đánh giá chi phí và lợi ích tiềm năng của việc đưa ra các nhượng bộ. Theo Dan Slater và Joseph Wong, các nhà nước độc tài mạnh có thể lựa chọn để dân chủ nếu họ nhận ra rằng họ “đang đi qua đỉnh của quyền lực và tính hợp pháp” và tính toán rằng việc cho phép một số cởi mở chính trị là chiến lược tốt nhất để giữ quyền lực. Khi các đảng chi phối có các thiết chế nhà nước và đảng phái mạnh, như ở Indonesia, Hàn Quốc và Đài Loan, nguy cơ đánh mất quyền lực vì những nhượng bộ ôn hòa dường như thấp. 16 Vào năm 1980, việc duy trì nguyên trạng đã trở nên tốn kém cho Quốc Dân Đảng. Việc không điều chỉnh các mục tiêu và chiến lược của mình sẽ chỉ mang lại những bất ổn nội bộ và cô lập quốc tế. Đồng thời, với lợi thế của mình về nguồn lực, tổ chức, và kinh nghiệm cho thấy rằng nó có thể trở nên toàn diện hơn và cho phép nhiều cạnh tranh hơn mà không bị mất quyền kiểm soát.

Trái với Slater và Wong, Andreas Schedler cho rằng các đảng chi phối cởi mở hơn để cải cách khi mà việc tiếp tục kiểm soát không đảm bảo chắc chắn. 17 Chẳng hạn PRI đã bị suy yếu nghiêm trọng bởi sự phân ly đảng vào năm 1987, điều này phản ánh những bất đồng sâu sắc về bản chất và tương lai của đảng và nhà nước. Chiến thắng tối thiểu của họ tại các cuộc bầu cử vào năm 1988 và sự xuất hiện của các đối thủ mới mạnh ở cánh tả và cánh hữu tiếp tục làm mất dần sự tự tin của đảng. Nhưng những khích lệ mạnh mẽ vào đầu những năm 1990 – sự cần thiết để ngăn chặn các thách thức của PRD, thông qua những cải cách kinh tế, và đàm phán NAFTA, chưa kể đến việc dập tắt các cuộc nổi dậy Chiapas và tránh tình trạng bất ổn tương tự ở nơi khác – khuyến khích đảng đưa ra các nhượng bộ. Các phương án độc tài thay thế khác đòi hỏi giá rất cao, được làm cao hơn nữa bởi các mối quan hệ quốc tế. Hơn nữa, năm 1994 PRI đã tái khẳng định năng lực mạnh mẽ của nó trong các cuộc bầu cử giữa nhiệm kì vào năm 1991, giảm bớt lạm phát, cải thiện tăng trưởng kinh tế được, và tỷ kệ ủng hộ cao của Tổng thống Carlos Salinas, khiến đảng lạc quan rằng nó có thể tiêp tục duy trì quyền lực.

Quan điểm của Slater-Wong gợi ý rằng giai đoạn sau chiến thắng bầu cở lớn của UMNO năm 2004 có thể là một cơ hội cho đảng đưa ra những nhượng bộ chiến thuật như PRI và Quốc Dân Đảng đã làm. Tình trạng bất ổn dân sự và đối lập mạnh cho thấy trong các cuộc bầu cử trước đó đã báo hiệu sự bất mãn lan rộng với chế độ, trong khi lập trường ôn hòa và những lời hứa cải cách của Abdullah đã giúp giành chiến thắng cuộc bầu cử năm 2004. Tuy nhiên, thay vì đưa ra những nhượng bộ ôn hòa đối với những người chỉ trích chế độ, đảng càng trở nên dân tộc cực đoan và độc tài hơn, một phần vì giới tinh hoa UMNO thiếu động lực rõ ràng cho sự thay đổi. Chiến thắng năm 2004 của đảng trong cuộc bầu cử khôi phục lại cảm giác bất khả xâm phạm của nó. Mặt trận thay thế đã sụp đổ, và PAS, vốn từng là thách thức nghiêm trọng nhất của UMNO, mất 20 trong số 27 ghế mà nó đã giành được trong năm 1999. Không có mối đe dọa về các cuộc nổi dậy bạo lực, nền kinh tế đang phát triển, và không có tác động hay áp lực bên ngoài đáng kể cho sự dân chủ hóa. Tóm lại, không có một cuộc khủng hoảng được thừa nhận đủ để đòi hỏi sự thay đổi bắt buộc. Các cuộc bầu cử năm 2008 là một cú sốc sâu sắc đối với UMNO, và làm cho việc tự do hóa dường như thậm chí trở nên rủi ro hơn. Nếu trước năm 2008 UMNO đã thất bại trong việc nhận ra những dấu hiệu cho thấy sự kiểm soát của nó đã đi qua đỉnh điểm của nó, thì sau cuộc bầu cử UMNO sợ rằng đã quá muộn để tự do hóa mà không bị mất kiểm soát.

Một sự tập trung vào sự nhận thức và các khuyến khích của giới tinh hoa như là các yếu tố quyết định các hành động của đảng chi phối nhấn mạnh một sự tương phản thêm giữa UMNO với PRI và Quốc Dân Đảng (KMT) – sức mạnh của các nhà lãnh đạo cải cách trong đảng cầm quyền. Các chính trị gia và các quan chức từ lâu đã quen với lợi thế trong cuộc bầu cử và sự phụ thuộc phổ biến vào sự bảo trợ (để thăng tiến trong đảng cũng như để giành chiến thắng cuộc bầu cử nội bộ đảng) được cho là chống lại việc thay đổi hệ thống. Phe cải cách mạnh trong giới lãnh đạo là rất quan trọng để vượt qua sự chống đối cải cách trong đảng cầm quyền.

Tại Mexico, các dàn xếp trên cở cở truyền thống và thể chế trao cho tổng thống (và là người đứng đầu đảng) quyền lực lớn. Hơn nữa, cả Salinas và người kế nhiệm ông, Ernesto Zedillo, được đào tạo như các nhà kinh tế học và là các nhà kỹ trị có kinh nghiệm, điều mang đến cho họ một sự độc lập nào đó với nhóm lãnh đạo truyền thống của đảng, và được tăng cường hơn nữa bởi sự ủng hộ của các nhà lãnh đạo đảng trẻ, ủng hộ cải cách. Tại Đài Loan, truyền thống và lịch sử Leninist của Quốc Dân Đảng đã trao sức mạnh to lớn đến Tưởng Giới Thạch và Tưởng Kinh Quốc, trong khi những người bảo thủ ban đầu xem Lee Teng-hui, người vừa là người Đài Loan vừa là một nhà kỹ trị, như một người ngoài đáng ngờ. Nhưng Lee có thể bảo đảm quyền lực với sự thao túng khéo léo và sự ủng hộ của phe cải cách khá lớn trong đảng. Ở cả Mexico và Đài Loan, hầu hết những nhân vật tinh hoa phản đối các chiến lược và cải cách mới của đảng tách ra và thành lập đảng mới thay vì tiếp tục chống lại cải cách từ bên trong.

Ngược lại, hai người kế nhiệm của Mahathir có ít quyền lực trong UMNO hơn ông từng có. Việc bổ nhiệm Abdullah năm 1991 làm phó thủ tướng của Mahathir là một bất ngờ cho nhiều người. Phong cách nhẹ nhàng, dãi hơn của ông được ngưỡng mộ bởi một số người, nhưng bị những người khác coi là yếu đuối. Trong khi đó Najib có các điểm yếu khác – các nghi ngờ về bê bối trong quá khứ, trong đó có tội giết người; các nhận xét phân biệt chủng tộc trong quá khứ; sự hoang phí quá mức của vợ ông; và các kỳ nghỉ không đúng lúc ở nước ngoài. Najib đã củng cố vị trí của mình bằng cách mở rộng đáng kể Văn phòng của Thủ tướng, tạo ra một chính phủ ảo trong chính phủ. Lập trường của ông như là một nhà cải cách kinh tế và một người ôn hòa đã giành được sự ủng hộ của phương Tây và IMF, nhưng ít sự ủng hộ trong đảng của ông. Mặc dù có khiếu nại bởi những người ủng hộ của Mahathir sau cuộc bầu cử năm 2013, phe phái của Abdullah và Najib cho đến giờ vẫn kiểm soát được Hội đồng tối cao của đảng. Nhưng các phe phái trong đảng tập trung vào sự phân chia ngắn hạn các nguồn lực và lợi thế chính trị, mà không phải vàocacs chiến lược kinh tế hay chính trị lâu dài. Chính sách thắt chặt tài khóa sau bầu cử của Najib, bao gồm cắt giảm trợ giá đường và nhiên liệu, đã gây nên một sự biến động trong Đảng và công chúng. Tóm lại, trong khi cả Abdullah và Najib có xu hướng ôn hòa, họ không có đủ sức mạnh để vượt qua sự chống đối trong đảng. Vị trí của Najib của vẫn còn bấp bênh.

Sự phản đối của dân chúng ngày càng tăng ở Malaysia cho đến giờ đã chuyển qua các cuộc bầu cử. Sự thống trị áp đảo của UMNO kết hợp với lo ngại về bạo lực sắc tộc đã làm cho sự phản đối không bầu cử dường như nguy hiểm. Các cuộc biểu tình quy mô lớn ấn tượng nhất, được tổ chức bởi Bersih, đã tập trung vào yêu cầu cho các cuộc bầu cử công bằng hơn, trong đó bao gồm một ủy ban bầu cử độc lập và hiệu quả – một cuộc cải cách rất quan trọng trong việc giảm bớt quyền lực đảng chi phối ở Mexico và Đài Loan.

Tổng quát hơn, các con đường khác để thay đổi chế độ, theo cách của mùa xuân Ả Rập hoặc các cuộc cách mạng màu, có thể đặc biệt không thể xảy ra ở các nước có đảng chi phối được thiết lập từ lâu, và được thể chế hóa sâu rộng. Nếu và khi họ mất đi quyền lực, các đảng như vậy hầu như không suy yếu. Khả năng để tái tạo sự thống trị trước đó như một thách thức trong một hệ thống cạnh tranh thực sự do đó là rất quan trọng để củng cố nền dân chủ – như các kinh nghiệm của Mexico và Đài Loan sau năm 2000 cho thấy.

Nếu con đường thay thế để thay đổi chế độ hầu như là không thể, thì phản ứng của giới tinh hoa đối với áp lực của dân chúng và ảnh hưởng quốc tế trở nên quan trọng hơn. Việc lựa chọn lãnh đạo phản ánh nhận thức của họ về thực tại và các đánh giá về chi phí và lợi ích; hành động của họ phụ thuộc vào khả năng của họ để vượt qua sự phản đối không thể tránh khỏi trong đảng. Tại Mexico và Đài Loan trong những năm 1980, các cuộc khủng hoảng sâu rộng buộc các nhà lãnh đạo đánh giá lại các chi phí và lợi ích của việc nhượng bộ. Các nhà cải cách vừa có tầm nhìn và quyền lực để thay đổi trò chơi. Tại Malaysia, UMNO thấy có ít sự khuyến khích cho việc tự do hóa. Các chi phí của việc duy trì hiện trạng đang gia tăng, nhưng những ảnh hưởng tích lũy của các hành động của UMNO đã làm tăng chi phí của việc nhượng bộ. Trong khi đó, phe đối lập ở Malaysia đang chơi trong một đoạn đường dài. Không biết liệu nó có thể tiếp tục thống nhất và thay đổi cán cân lợi ích của UMNO hay không.