Dân chủ: Khủng hoảng và chuyển dịch chứ không suy thoái

Thông tin chi tiết

Bài báo: Crisis And Transition But Not Decline (Khủng hoảng và chuyển dịch chứ không suy thoái)

Tác giả: Philippe C. Schmitter

Tạp chí: Journal of Democracy, Issue 1, Volume 26

Chuyển ngữ: Minh Anh (Nhóm Tinh Thần Khai Minh)

Hướng dẫn trích nguồn: Philippe C. Schmitter, “Crisis And Transition But Not Decline” (Khủng hoảng và chuyển dịch chứ không suy thoái, bản dịch của Minh Anh, nhóm Tinh Thần Khai Minh), Journal of Democracy 26 (tháng 1 năm 2015): trang 32 – 44.

Tải về tại đây:

KHỦNG HOẢNG VÀ CHUYỂN DỊCH CHỨ KHÔNG SUY THOÁI

Tác giả: Philippe C. Schmitter

Chuyển ngữ: Minh Anh [Nhóm Tinh Thần Khai Minh]

Philippe C. Schmitter, giáo sư emeritus ở Khoa khoa học Chính trị và Xã hội tại Viện Đại học Châu âu, trước đó ông dạy tại  Đại học Chicago và Đại học Stanford. Ông là đồng biên tập (cùng với Guillermo O’Donnell và Laurence Whitehead) loạt bốn tập quang trọng Những sự chuyển dịch từ Sự cai trị Độc tài

 

Dường như có một sự đồng thuận áp đảo giữa các học giả và các chính trị gia rằng dân chủ như một thực tiễn đang suy thoái. Ngày 18 tháng 8 năm 2014, Google search cho cụm từ suy thoái dân chủ thu được hơn 55.5 triệu kết quả; Google Scholar, vốn chỉ tìm kiếm tài liệu học thuật, cũng cho một số lượng lớn, với 434 nghìn kết quả. Tuy nhiên, đồng thời, mọi người thừa nhận rộng rãi rằng mong muốn cho dân chủ như một lý tưởng – nghĩa là, sự tự cai trị của các công dân với các quyền và ảnh hưởng như nhau trong việc lựa chọn các nhà lãnh đạo và quyết định các vấn đề chung – chưa bao giờ lớn hơn hay phân bố rộng rãi đến thế. Khoảng cách này giữa những gì được hứa hẹn và những gì được tạo ra là một đặc điểm phổ biến trong những chế độ được thiết lập từ lâu mà tôi đã gọi là “các nền dân chủ đang tồn tại thực sự” và nó cũng đã được tái hiện trong các nền dân chủ mới được thiết lập. Đó là nguồn gốc của hầu hết các cuộc tranh cãi trong lịch sử mà đã dẫn đến việc cải cách các thể chế dân chủ một cách định kỳ.

Khoảng cách ngày càng mở rộng giữa thực tế và lý tưởng này đặc trưng cho cuộc khủng hoảng hiện tại – do đó là một áp lực ngày càng tăng, không phải cho việc phá hủy các nền dân chủ như vậy, mà là để thay đổi cách thức mà nó đang được vận hành. Dường như không ai tin rằng hoặc các nền dân chủ đang thực sự tồn tại hoặc các nền dân chủ mới, vốn đã vượt qua một số ngưỡng củng cố nào đó, trong tương lai gần sẽ suy thoái khỏi hiện trạng của chúng. Hơn nữa, đơn giản là không có một lựa chọn thay thế hợp lý trong tầm mắt, ngoài một vài mô hình (ví dụ, chế độ nhân tài của Trung Quốc, chế độ tân Nga hoàng của Nga, chế độ quân chủ Ả Rập, hay nền chính trị thần quyền Hồi giáo) mà hầu như không có khả năng lôi cuốn vượt ra ngoài biên giới của chúng. Nói cách khác (sử dụng một dòng trong cuốn tiểu thuyết The Leopard của Giuseppe Tomasi là di Lampedusa), dân chủ chắc chắn sẽ sống sót, nhưng chỉ bằng cách thay đổi. Tuy nhiên, những thay đổi này là gì, thì chưa rõ ràng.

Một số bằng chứng sai lầm về sự suy thoái

Bằng chứng về sự khủng hoảng và suy thoái gần đây của dân chủ dựa trên những kết luận đáng ngờ từ các nguồn định lượng và các suy luận có chọn lọc từ các nghiên cứu định tính. Freedom House đã được coi là nguồn “đáng tin cậy” cho cái trước, và báo cáo hàng năm của nó đã khắc họa các phiên bản khác nhau của câu chuyện về “sự suy thoái của dân chủ” từ năm 2008. Khẳng định này về sự suy giảm dựa trên điểm số trung bình của chỉ số thành phần của nó. Điều này đặc biệt sai lầm vì nhiều chế độ được coi không có sự cải thiện khi các giới hạn trên của các biến được sử dụng. Ví dụ, không biện pháp nào trong số các biện pháp cải cách được thảo luận dưới đây làm tăng điểm số của một trong số chúng. Nhiều chế độ không tự do không tiếp tục suy thoái hơn, và nhiều trong số này là các “nhà nước thất bại” vì rơi vào các cuộc nội chiến và hoàn toàn không có nhà nước gì cả. Hầu hết các nền dân chủ tự do một phần hay các nền dân chủ lai mà đã cho thấy sự biến đổi – và một số trong chúng đã đi lên. Hơn nữa, những thay đổi nhỏ trong số điểm trung bình của toàn bộ mẫu (vốn là thứ có xu hướng được sử dụng như chỉ số cho sự suy thoái) có thể được quy cho một số tương đối nhỏ các trường hợp, từ Nga và các nước cộng hòa Á-Âu cũ của nó đến Bangladesh, Fiji, Guinea- Bissau, Mali, Mauritania và Niger. Một nguồn định lượng khác, Index of Democracy của Economist Intelligence Unit, báo cáo các kết quả tổng hợp tương tự, trong khi một nguồn khác, Bertelsmann Transformation Index, cho thấy không có sự thay đổi đáng kể từ năm 2006 đến năm 2010.

Các khảo sát công luận ngẫu nhiên trong cả các nền dân chủ lâu đời và các nền dân chủ mới đều “khám phá” ra rằng ngày càng nhiều người dân cảm thấy rằng lá phiếu của họ không được tính đến và bị các nhà lãnh đạo của họ coi thường. Ấn tượng nhất có lẽ là sự suy giảm niềm tin vào các thiết chế dân chủ cốt lõi – cụ thể là, các chính trị gia được bầu, các đảng phái chính trị, và cơ quan lập pháp. Tuy nhiên, các cuộc điều tra tương tự thường cho thấy một sự suy giảm niềm tin tương tự vào các quan chức không được bầu chọn, bao gồm cả quân đội và cảnh sát, công chức, và thậm chí cả các nhà khoa học và các bác sĩ. Nói cách khác, sự hoài nghi đã dần trở thành đặc trưng của công luận nói chung, ngay cả khi nó tập trung chủ yếu vào tiến trình chính trị. Điều thú vị là, các cuộc khảo sát này cũng cho chúng ta thấy rằng sự quan tâm của công chúng đến chính trị ngày càng tăng cao với một cảm nhận rằng chính trị thực sự có một tác động lớn đến cuộc sống của mọi người. Vì vậy, khoảng cách đang tồn tại, nhưng nhận thức về nó cũng đang tồn tại, có lẽ, cả mong muốn thu hẹp nó cũng như vậy.

Về mặt định tính, các học giả đã tìm thấy một chuỗi các “triệu chứng bệnh tật” mà minh họa cho mức độ suy thoái trong nhiều nền dân chủ đang thực sự tồn tại và các nền chủ mới được thiết lập. Ở đầu của danh sách, ta thường thấy sự mất lòng tin ngày càng tăng với các chính trị gia được bầu và các thiết chế đại diện (đặc biệt là các đảng chính trị), được theo sau bởi mức độ suy giảm của sự tham gia bầu cử, và số thành viên hay bản sắc đảng phái, sự gia tăng bất ổn bầu cử, và các vấn đề trong việc hình thành các chính phủ ổn định.

Các đảng trung tâm chi phối trước đây thấy rằng ý thức hệ của họ không còn đáng tin với công chúng và họ đang đánh mất cử tri cho các đảng dân túy mới nổi của cánh tả hay cánh hữu. Quốc hội ngày càng không còn là trung tâm của quá trình ra quyết định, đang bị thay thế bởi quyền hành pháp và một vai trò rộng lớn hơn cho “các thiết chế bảo vệ” vốn bị chi phối bởi các nhà kĩ trị độc lập. Nội các đương nhiệm bao gồm nhiều hơn các thành viên không được bầu hơn bao giờ hết, những người được lựa chọn vì lập trường “không đảng phái” của họ. Số lượng thành viên và sự tuân theo các tổ chức trung gian dựa trên cơ sở giai cấp như công đoàn và hiệp hội sử dụng người lao động đang suy giảm, trong khi các công ty lớn, đặc biệt là các công ty tài chính, đạt được sự tiếp cận trực tiếp hơn đến giới cao nhất nắm quá trình ra quyết định.

Những “nghi phạm thông thường” thường được trích dẫn như là các nguyên nhân chung của cuộc khủng hoảng và suy thoái. Đứng đầu danh sách, hầu như đó luôn là toàn cầu hóa, vì người ta cho rằng nó đã tước đoạt sự tự trị trước đó của nhà nước dân tộc, làm xói mòn sự hiệu quả và trách nhiệm của chính phủ đối với các nhu cầu của công dân. Các doanh nghiệp đa quốc gia, các tổ chức tài chính quốc tế, và (ít nhất là ở châu Âu) các thoả thuận quản trị-khu vực nhiều lớp đã áp đặt một hỗn hợp phức tạp các ràng buộc và cơ hội vốn hạn chế rất nhiều đối với các chương trình kinh tế và chính sách xã hội cũng như khả năng để điều tiết và đánh thuế các nhà tư bản và doanh nghiệp của nó. Những thay đổi trong cơ cấu sản xuất và cơ cấu ngành của nền kinh tế đã làm suy yếu ý thức tập thể của người lao động và làm mờ đi sự phân chia giai cấp vốn từ lâu đã cung cấp cơ sở cho các đảng chính trị ở cánh tả và cánh hữu.

Chính trị đã trở thành một nghề nghiệp toàn thời gian chứ không phải là một công việc bán thời gian. Hầu hết những người bước vào lĩnh vực này hiện nay đều hy vọng sẽ dành toàn bộ sự nghiệp của mình ở đó, và họ bao quanh mình với các chuyên gia chính trị khác như người viết diễn văn, tư vấn truyền thông, thăm dò dư luận, và “chuyên gia quảng cáo”. Công dân ngày càng trở nên ý thức được rằng những người đại diện và người cai trị của họ sống trong một thế giới hoàn toàn khác và tự tham chiếu. Ưu tiên bỏ phiếu giờ đây ít dựa trên giai cấp, ngành nghề, và các lợi ích chuyên môn mà nhiều hơn trên các mối quan tâm cá nhân về lối sống, niềm tin đạo đức, và vai trò của chính phủ.

Tất cả điều đó vẫn chưa đủ, các công dân – nhiều người trong số họ bây giờ thông qua Internet đã tiếp cận với các nguồn thông tin độc lập và phê phán – đã được giáo dục tốt hơn và hoài nghi hơn về các động cơ và hành vi của các chính trị gia của họ. Hơn nữa, dòng chảy to lớn của sự di cư Nam-Bắc cũng đã thay đổi thành phần nhân khẩu học của hầu hết các nền dân chủ thực sự đang tồn tại, và một phần đáng kể dân số của họ không có các quyền công dân hay các triển vọng để đạt được chúng. Sự đa dạng ngày càng tăng này thách thức quan niệm về một dân tộc chung với một số phận được chia sẻ, và do đó là một cảm quan được chấp nhận lẫn nhau về các lợi ích công cộng. Mặc dù sự phản kháng dân túy hiện tại đối với chủ nghĩa đa nguyên sắc tộc, các nền dân chủ đang thực sự tồn tại sẽ phải tìm một cách để thích ứng với sự đa dạng và cải cách thể chế của nó cho phù hợp.

Nhiều yếu tố hoàn cảnh khác cũng được cho là đóng một vai trò quan trọng. Đầu tiên và trước hết là sự sụp đổ của ‘nền dân chủ nhân dân’ kiểu Liên Xô đã lấy đi khỏi các nền dân chủ phương Tây một trong những cơ sở chính cho tính hợp pháp của nó – cụ thể là, sự siêu việt của nó so với đối thủ cộng sản. Kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, các nền dân chủ của phương Tây đã phải đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe hơn về bình đẳng, tiếp cận, tham gia, và tự do vốn được hứa hẹn bởi các lý tưởng dân chủ. Làn sóng mới nhất (mà, mạn phép Huntington, không phải là “làn sóng thứ ba”) của dân chủ vốn bắt đầu vào năm 1974 cũng góp phần làm gia tăng nói chung các kỳ vọng và các khẳng định không thực tế về “sự kết thúc của lịch sử.” Các cải cách tân tự do thất bại trong việc thực hiện lời hứa của họ về sự tăng trưởng liên tục, phân phối công bằng và cân bằng tự động, đồng thời đã dẫn đến Đại suy thoái vào năm 2008, sự kiện mà nhiều nền dân chủ (đặc biệt là ở châu Âu) chứng minh là không có khả năng giải quyết.

Cốt lõi của sự đồng thuận này về khủng hoảng và suy thoái nằm ở sự nhấn mạnh rằng thực tiễn dân chủ dựa trên sự đại diện – đặc biệt là thông qua cạnh tranh giữa các đảng phái chính trị trong các cuộc bầu cử định kỳ và công bằng vốn được kì vọng sẽ mang lại, một cách trực tiếp hay gián tiếp, các nhà cai trị chính danh.1 Phải thừa nhận rằng, các đảng phái chưa bao giờ được người dân “yêu mến” – một phần vì nó là một biểu hiện công khai của các xung đột lợi ích và ý thức hệ vốn chia rẽ họ, nhưng cũng bởi có nhiều lý do để nghi ngờ, như nhà xã hội học người Đức Robert Michels từ lâu khẳng định, rằng nó dễ bị tác động bởi giới đầu sỏ và dễ bị tham nhũng tự tạo.2

Đối mặt với vô số bằng chứng như vậy, các lập luận thuyết phục, và sự đồng thuận lớn, làm thế nào ai đó có thể nghi ngờ rằng nền dân chủ không đang suy thoái?

 

Một số bằng chứng mới mẻ về sự chuyển dịch

Từ quan điểm của tôi với tư cách là một nhà nghiên cứu chuyển đổi thể chế “card-carrying”, chẳng có gì ngạc nhiên nếu tôi kết luận rằng dân chủ không suy thoái, mà là nó đang khủng hoảng và trong quá trình chuyển dịch từ một dạng này sang một dạng khác3 – mặc dù ta không biết rõ dạng mới này là gì hay liệu bất cứ dạng trong số các dạng mới này có là một sự cải tiến hơn so với các thực tiễn hiện hành hay không. Thật vậy, chính sự không chắc chắn này về các quy tắc của trò chơi là một đặc điểm chi phối của tất cả các hoàn cảnh chuyển dịch. Theo thuật ngữ chung, ta có thể dán nhãn cấu hình đang nổi lên này là “hậu tự do” (nhưng chắc chắn không phải là “phi tự do” hay “chống tự do”). Tất nhiên, nhãn hiệu này không truyền đạt nhiều đặc điểm của ý nghĩa, thay vào đó mở ra triển vọng cho kết quả là một cái gì đó khác biệt về chất.4

Như thường đúng với các cuộc tranh luận như vậy, câu trả lời không phụ thuộc vào các sự kiện nhưng vào các khái niệm và các giả định trong đó định nghĩa sự kiện nào xuất hiện và tại sao. Không ngạc nhiên, điều này bắt đầu với định nghĩa về dân chủ mà ta sử dụng. Năm 1991, Terry Karl và tôi đề xuất trong các trang này một định nghĩa rất tổng quát về nền dân chủ mà không liên quan đến các thiết chế cụ thể hay các kết quả tiền giả định: “nền dân chủ chính trị hiện đại là một [chế độ]. . . trong đó nhà cầm quyền phải chịu trách nhiệm cho hành động của mình trong lĩnh vực công trước công dân, [thường] hành động gián tiếp thông qua sự cạnh tranh và hợp tác của những người đại diện được bầu chọn của họ”.5 Giờ đây tôi thêm vào cho rõ hơn: “và trong đó công dân tuân thủ tự nguyện với các quyết định của người cai trị của họ – ngay cả khi họ không chấp thuận một cách rõ ràng những quyết định này – bởi vì họ xem chúng được thực hiện một cách hợp pháp.”

Nói cách khác, dân chủ là một quá trình hai chiều (hay đúng hơn, tập hợp của các quá trình) trong đó các công dân với các quyền và nghĩa vụ chính trị bình đẳng có các phương tiện sẵn có và đáng tin cậy để truy cập thông tin, yêu cầu sự biện minh, và áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với người cai trị của họ; đổi lại, công dân tuân theo những người cai trị hợp pháp và đồng ý tôn trọng các quyết định của họ, ngay cả khi không đồng ý với chúng. Định nghĩa này về dân chủ có hai ý nghĩa quan trọng đối với cách mà chúng ta xác định xem nền dân chủ đang suy thoái hay đang chuyển dịch: Điều này có nghĩa rằng sẽ là một sai lầm 1) khi tập trung hoàn toàn vào một tập hợp đơn nhất của các thiết chế (thường là, việc tiến hành các cuộc bầu cử và các hành vi của các đảng chính trị) hoặc 2) đưa ra một phán quyết dựa trên các chỉ số về hiệu quả hoạt động thực chất của một nền dân chủ nhất định.

Tất cả những gì cần tính đến là tính hiệu quả của các quy trình trách nhiệm và sự tự nguyện của công dân để đảm bảo tính hợp pháp. Cả hai có thể thay đổi vì nhiều lý do, bao gồm cả việc giới thiệu các công nghệ truyền thông mới, sự khuếch tán của những tư tưởng mới lạ vượt qua các biên giới, hay việc tạo ra các kênh đại diện mới. Giả định cốt lõi là nếu nhà cầm quyền biết rằng họ sẽ phải giải trình, nếu người dân tin sự cai trị của họ là hợp pháp, thì kết cục sẽ là sự thỏa mãn với các nguồn lực sẵn có. Định nghĩa này ngụ ý rằng không phải tất cả các nền dân chủ cần phải tuân theo cùng một tiêu chuẩn về hoạt động – với một lý do đơn giản rằng không phải tất cả các công dân muốn cùng một thứ và không phải tất cả các chính thể đều có khả năng tạo ra cùng một mức độ về các dịch vụ công. Tocqueville lập luận nổi tiếng rằng một khi nền dân chủ đã thiết lập sự bình đẳng trong các lĩnh vực chính trị và pháp luật, công dân sẽ đòi sự bình đẳng về địa vị xã hội và của cải vật chất.6 Ông đã đúng về xu hướng, nhưng sai về kết quả cuối cùng. Các nền dân chủ thực sự đang tồn tại khác nhau đáng kể và nhất quán trong các kết quả phân phối của họ.7

Một cách khác để diễn đạt lập luận này là cần tách rời các tiêu chí đánh giá chất lượng của nền dân chủ khỏi những tiêu chí để đánh giá chất lượng của chính phủ. Cái trước là về quá trình kết nối những người cai trị với người bị cai trị theo cách đảm bảo trách nhiệm lẫn nhau, trong khi cái sau quan tâm đến các kết quả vốn đến từ việc thực thi quyền lực, dù việc thực thi này có dân chủ hay không. Điều này hạm ý rằng một số chế độ độc tài có thể làm tốt hơn một số nền dân chủ – như, tạo ra tăng trưởng kinh tế cao hơn, lạm phát thấp hơn, phân phối tốt hơn sự giàu có, công ăn việc làm đầy đủ hơn, và trong một số trường hợp thậm chí ít tham nhũng hơn, chấp hành nghiêm ngặt hơn nền pháp quyền hơn, và bảo vệ quyền con người tốt hơn (nhưng không phải là các quyền dân sự). Phần lớn các bằng chứng mang tính giai thoại về sự suy thoái liên quan đến cách mà các chính phủ – ngày càng nhiều trong số đó được thừa nhận là thuộc các chế độ dân chủ – hoạt động, không phải là cách mà dân chủ hoạt động.

Một số bằng chứng mới nổi về sự Cải cách

Khoảng một thập kỷ trước, Alexander Trechsel và tôi cùng nhau xây dựng cho Hội đồng châu Âu một nhóm làm việc gồm các học giả và các chính trị gia về chủ đề “Tương lai của nền dân chủ ở châu Âu”. Trong các cuộc thảo luận kéo dài, những người tham gia nhanh chóng nhận thấy rằng có rất nhiều ý tưởng lẫn thử nghiệm chính trị liên quan đến các cải cách thể chế.8 Phần lớn các suy nghĩ và nỗ lực này đã không được chú ý vì nó diễn ra ở cấp địa phương hoặc theo kiểu ít nhiều lẻ tẻ. Trong trường hợp của các nền dân chủ mới, sự mất uy tín phổ biến do những sự yếu kém nội tại của các chế độ của chúng – rằng nền dân chủ của chúng là “thiếu sót”, “một phần”, “lai”, “giả”, “bề ngoài”, “phi tự do”, “đình trệ”, ” cường độ thấp “,”ủy nhiệm”,” khiếm khuyết “, hay chỉ đơn thuần là”bầu cử”- che mờ đi thực tế là chúng đã thường xuyên tham gia vào các hoạt động sáng tạo.9

Theo nhận thức tốt nhất của tôi thì chưa có sự tóm tắt hoàn chỉnh nào về các nỗ lực cải cách này. Để liệt kê tất cả chúng và đính kèm chúng vào chỗ cụ thể của chúng là vượt quá sức của tôi (cũng như chuyên môn của tôi). Vì thế, tôi chỉ đơn giản cung cấp cho các độc giả một mẫu đại diện và mời họ theo đuổi các công việc này theo một cách hệ thống hơn:10

1) Những cuộc trưng cầu ý dân và các sáng kiến có lẽ là sự đổi mới được sử dụng rộng rãi và thường xuyên nhất, khi các dạng vấn đề vốn trở thành chủ đề của các biện pháp như vậy ở cả cấp quốc gia lẫn địa phương đã và đang tăng lên nhanh chóng. Dù như vậy, song một số trong những cuộc trưng cầu ý dân và các sáng kiến này đơn thuần chỉ mang tính tư vấn, và nhiều trong số đó yêu cầu một ngưỡng cao để trở thành hiện thực; tuy nhiên, chúng đã mang đến cho công dân trong nhiều chính thể một kênh trực tiếp hơn nữa để tham gia vào việc tạo ra các quyết định hơn họ đã từng có trong quá khứ.

2) “Dự thảo ngân sách có sự tham gia” là một cải cách đã được nghiên cứu rộng rãi kể từ khi nó được thực hiện lần đầu tiên ở Porto Alegre, Brazil, và sau đó phổ biến ra nhiều lục địa. Dự thảo ngân sách có sự tham gia liên quan đến việc triệu tập một hội đồng các công dân tự lựa chọn hoặc được chọn ngẫu nhiên để tranh luận về việc phân phối theo một tỷ lệ nào đó trong tổng ngân sách của một đơn vị chính phủ. Một loạt các diễn đàn như vậy đã xuất hiện theo thời gian, và các tên gọi của chúng có thể khác nhau – ví dụ, “hội nghị đồng thuận”, ban hội thẩm của “công dân”, hội đồng của “công dân”, “các tổ kế hoạch”, “diễn đàn vấn đề”, “các hội đồng công dân, thậm chí “ngày thảo luận” – giống như các quy tắc cai trị chúng, nhưng mục đích là như nhau: để mang các công dân bình thường đến gần hơn với quá trình hoạch định chính sách thông qua sự tham gia của cá nhân.

3) Cuộc bầu cử đảng, một công cụ để lựa chọn trong số các ứng cử viên cạnh tranh cho sự đề cử một đảng chính trị, từ lâu đã là một nét đặc biệt của nền chính trị Hoa Kỳ. Trong những thập kỷ gần đây, thực tế này đã phổ biến khắp các quốc gia và châu lục. Hình thức có thể khác nhau, nhưng nhìn chung các cuộc bầu cử mang đến cho thành viên của đảng (hoặc thậm chí các công dân bình thường) khả năng thâm nhập vào trong giới đầu sỏ đảng vốn được bảo vệ vững chắc. Một số nơi thậm chí đã chọn “các cuộc bầu cử sơ bộ mở”, trong đó các ứng cử viên của tất cả các đảng cạnh tranh và hai người đưng đầu nhận nhiều phiếu nhất, bất kể đảng phái, trở thành ứng cử viên cho cuộc tổng tuyển cử. Một cải cách khác mà có thể ảnh hưởng partitocrazia là sự giới thiệu nota ( “không vượt quá”) như là một sự lựa chọn khác cho cuộc bầu cử. Trong một số phiên bản, nếu có đủ số lượng công dân kiểm tra hộp này, cuộc bầu cử phải được tổ chức lại.

4) Tài trợ công cho các đảng chính trị lại là một sự đổi mới tương đối gần đây – một sự đổi mới mà đã lan rộng từ các nền dân chủ đang tồn tại thực sự ở châu Âu sang các nền dân chủ mới. Mục tiêu chính là chống lại khuynh hướng đóng góp không cân xứng từ các công dân giàu có và các tập đoàn tư nhân bằng cách chuyển gánh nặng tới các đóng góp bắt buộc từ tất cả những người nộp thuế. Điều này thường liên quan đến một số công thức phân phối dựa trên các kết quả bầu cử trước đó, vốn dường như sẽ củng cố lợi thế của những người đương nhiệm và, do đó, là giới đầu sỏ. Bởi vì việc giám sát các quỹ này thường thiếu và sự nhận tiền của họ không loại trừ việc huy động quỹ bổ sung từ các nguồn tư nhân, nên chúng là một nguồn dai dẳng của những cáo buộc tham nhũng.

5) Trong những thập kỷ gần đây, hạn ngạch cho quyền ứng cử của phụ nữ hoặc thậm chí để trở thành các thành viên của cơ quan lập pháp đã hầu như trở thành tiêu chuẩn trong nhiều nền dân đang thực chủ thực sự tồn tại. Ở một số nơi, đây là một nghĩa vụ pháp lý chính thức, thậm chí một điều khoản của hiến pháp quốc gia. Ở những nơi khác, các đảng chính trị đã thông qua thực tiễn này một cách tự nguyện – trước tiên ở phía các đảng cánh tả, nhưng càng ngày tăng ở các đảng ở trong trung tâm và cánh hữu. Trong khi đó, một số nước đã ban hành luật mà một nửa hoặc một tỷ lệ thấp hơn về số ghế trong cơ quan lập pháp được dành cho phụ nữ. Một biện pháp bổ sung, được gọi là “zippong”, đòi hỏi danh sách bầu cử đặt các ứng cử viên nam và nữ thay phiên. Những nỗ lực để thúc đẩy bình đẳng giới đã lan đến quá trình hình thành chính phủ: Các thực tiễn không chính thức của việc bổ nhiệm phụ nữ đứng đầu của một nửa các chức vụ bổ trưởng đang trở thành một chuẩn mực. Ít phổ biến hơn là quan niệm cho rằng các nhóm thiểu số khác mà trong lịch sử đã chịu sự phân biệt đối xử – về sắc tộc, ngôn ngữ, tôn giáo – nên được hưởng lợi từ các chính sách tương tự.

6) Sự chuyển giao các quyền lực lớn hơn cho các đơn vị chính trị địa phương đang trở nên phổ biến hơn. Hầu hết các nền dân chủ mới được thiết lập và một số các nền dân chủ Tây Âu được thiết lập từ lâu gần đây đã chuyển giao thẩm quyền ra quyết định đến các vùng, tỉnh, hoặc thành phố mà trước đây được cai trị bởi chính quyền trung ương của họ. Trong khi thể chế liên bang (toàn quốc gia) dường như đang tụt giảm, thì các hình thức linh hoạt hơn của sự phi tập trung này sẽ cho phép công dân buộc chính quyền địa phương có trách nhiệm hơn.

7) Các nỗ lực để lập kế hoạch cho tương lai đã nở rộ để đáp ứng lại các phàn nàn thường xuyên rằng các nền dân chủ thực sự đang tồn tại về bản chất là “thiển cận” – bị trói buộc vào các chu kỳ bầu cử hay các đòi hỏi trực tiếp của dư luận và do đó không có khả năng tham gia vào “suy nghĩ về tương lai” hoặc dự đoán trước các vấn đề trong tương lai và ngăn chặn các tác động tiêu cực của chúng. Nhiều thập kỷ gần đây đã chứng kiến một sự bùng nổ thực sự của “các ủy ban tương lai” – một số trong các chính phủ, một số khác trong các think tanks hay NGO. Các đề xuất lập pháp và các cuộc trưng cầu dân ý, được đi kèm với một sự đánh giá của chuyên gia về chi phí và hậu quả cuối cùng của chúng, ngày càng trở nên có tính bắt buộc. Tại Hungary, thậm chí còn có một “Nhân viên kiểm tra cho các thế hệ tương lai”, người thực hiện nhiệm vụ này một cách thường xuyên.

8) Sự gia tăng của sự tự do thông tin trên khắp thế giới đã giúp cho người dân có thông tin tốt hơn về hành vi của người cai trị họ. Các luật lệ (tự do thông tin) này cung cấp cho các công dân và các hiệp hội dân sự cơ hội tiếp cận với các tài liệu mà chính phủ đã thu thập được – ngay cả với các tài liệu mà hiện đang được sử dụng trong quá trình ra quyết định. Chắc chắn, các thành viên của cộng đồng có thể không luôn luôn có thời gian và kỹ năng để khai thác các tài liệu này, và một khối lượng lớn trong số đó đã tăng lên theo cấp số nhân trong những năm qua với sự gia tăng của sự giám sát chính phủ. Tuy nhiên, các luật như vậy tạo ra một đóng góp đáng kể nhằm đảm bảo tính minh bạch mà sự chịu trách nhiệm dựa vào.

9) Các cải tiến mới về công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) đang bắt đầu có tác động đáng kể vào việc thực hành dân chủ. Chi phí thấp của nó và sự phân bố rộng rãi, cũng như sự nạc danh cá nhân mà chúng cung cấp, đã mang đến cho người dân sự tiếp cận với các nguồn thông tin mà rất khó cho cơ quan chức năng có thể kiểm soát hoặc kiểm duyệt, và thường xuyên tiết lộ các hành vi mà nhà cầm quyền muốn giữ bí mật. Các đảng phái và các chính trị gia cũng cảm thấy bắt buộc phải sử dụng công nghệ này để kết nối với những người ủng hộ họ. Một số đảng phái và các ứng cử viên thậm chí đã sử dụng nó một cách hiệu quả để gây quỹ và huy động người ủng họ. Trong khi đó, một bộ phận rộng lớn của xã hội dân sự đã sử dụng công nghệ thông tin để tập hợp các đơn vị “ảo” thực hiên các hành động tập thể mà thường xuyên chỉ trích chính quyền.

10) Các bước tiếp theo trong chuyển đổi công nghệ này dường như đã xuất hiện trong một vài lĩnh vực được lựa chọn – cụ thể là, việc sử dụng thông tin liên lạc điện tử để ảnh hưởng đến sự đề cử của các ứng cử viên và sự hình thành các chương trình đảng, để làm cho sở thích cá nhân của cử tri phù hợp với các quan điểm của đảng và ứng cử viên (được gọi là bỏ phiếu thông minh), và cuối cùng để thực sự việc bỏ phiếu. Một số nước đã mở rộng hình thức “dân chủ điện tử này” thành “chính phủ điện tử” bằng cách thiết lập những ki-ốt hoặc văn phòng nơi công dân có thể liên hệ với các cơ quan chính phủ, tải về các biểu mẫu, và đưa ra các khiếu nại.

11) Một vài quốc gia đã giới thiệu một hệ thống mới để tài trợ cho xã hội dân sự. Công dân có thể lựa chọn phân bổ một tỷ lệ cố định nghĩa vụ thuế của họ đối với một tổ chức (hoặc các tổ chức) mà họ lựa chọn từ trong một danh sách đã được phê duyệt về các hiệp hội, tổ chức hoặc cơ quan. Do vậy, các tổ chức này trở nên bắt buộc phải cạnh tranh công khai và mạnh mẽ cho các quỹ này bằng cách tiết lộ những gì họ đã làm và đề nghị sẽ làm trong tương lai. Sự phân phối của các quỹ này không chỉ là một nguồn tài chính quan trọng cho họ, mà nó cũng phục vụ như một chỉ số gần đúng về tính hợp pháp của họ và tiết lộ các sở thích ẩn dấu của công dân.

12) Bản chất của công dân – nền tảng cơ bản nhất của các thiết chế dân chủ – đang bắt đầu thay đổi. Có một xu hướng hạ thấp độ tuổi trưởng thành chính trị đến mười sáu tuổi. Công dân sống ở nước ngoài có thể bỏ phiếu tại đại sứ quán hoặc lãnh sự tương ứng của họ. Về mặt pháp lý người nước ngoài thường trú đang đạt được một số quyền biểu quyết và tham vấn ở các nước nơi họ sinh sống (đặc biệt là ở cấp địa phương), và ở một số nơi thì đã trở thành dễ dàng hơn cho họ để có được quyền công dân ở quê hương mới của họ. Bước đột phá thực sự sẽ đến khi quốc tịch, cho dù huyết pháp hay địa pháp, được tách rời với địa vị của công dân. Thậm chí có một địa vị hợp pháp cho công dân “siêu quốc gia” trong Liên minh châu Âu, và sự phổ biến của các quyền con người và quyền dân sự vượt qua các biên giới quốc gia và sự củng cố (được thừa nhận chứa đáng tin) chúng bởi các tòa án quốc tế hoặc khu vực đã tạo ra một hệ thống rộng lớn hơn trên thực tế đối với sự bảo vệ công dân.

13) Đại diện bằng cách rút thăm là một trong những công cụ hầu như không mới. Nó đã có mặt tại thời điểm thành lập của Athens dân chủ cổ đại. Như đã đề cập ở trên, một số các tư vấn trực tiếp của người dân về các vấn đề chính sách liên quan đến việc lấy mẫu ngẫu nhiên những người tham gia từ những có mặt trong một khu vực cử tri nhất định. Một kỹ thuật gián tiếp hơn là tập hợp mẫu ngẫu nhiên của các công dân, đăng ký ý kiến ban đầu của họ, buộc họ tham gia một cuộc thảo luận về các quan điểm khác, kiểm tra họ với những thay đổi tiềm năng trong quan điểm, và sau đó công bố công khai kết quả. Việc tập hợp “một cộng đồng nhỏ thảo luận” như vậy cho “việc bỏ phiếu tương tác” đã trở thành một thực tế phổ biến ở các nền dân chủ phương Tây – mặc dù tác động thực tế của nó đối với nội dung chính sách hay tính hợp pháp chính trị vẫn chưa được chứng minh một cách thuyết phục(một cách tình cờ, đó là trường hợp có nhiều đổi mới được trình bày ở trên).

14) Theo quan điểm chính thống về chế độ dân chủ, người đại diện có được tính hợp pháp của họ nhờ vào được bầu đều đặn, cạnh tranh và trung thực. Tuy nhiên, đã có một sự gia tăng bất thường về số lượng những người không được bầu chọn khẳng định địa vị này trên cơ sở chuyên môn hay tổ chức của họ, tính hấp dẫn cá nhân của họ, cam kết của họ đối với các chuẩn mực chung, hay thậm chí sự nổi tiếng của họ – và có nhiều bằng chứng cho thấy rằng nhiều người trong số họ được chấp nhận the cách hiểu như vậy. Không nhà lãnh đạo nào của một tổ chức xã hội dân sự hay phong trào xã hội có được vị trí của họ thông qua một quá trình bầu cử cạnh tranh, chứ chưa cần kể đến các ngôi sao điện ảnh và nhạc sĩ nhạc rock những người có thể phát ngôn nhân danh sự nghiệp chung và toàn bộ châu lục.

Cho đến nay, hầu như mỗi trong số những thí nghiệm thể chế này đã tập trung vào việc phục hồi sự chịu trách nhiệm theo phương đứng thông qua các đảng chính trị hoặc các cuộc bầu cử hoặc chịu trách nhiệm chéo thông qua các tổ chức lợi ích, các phong trào xã hội, hay các mạng truyền thông. Tuy nhiên, các phiên bản tự do của lý thuyết dân chủ dành một sự nhấn mạnh đặc biệt vào sự chịu trách nhiệm theo phương ngang. Được hướng dẫn bởi nguyên tắc tổng quát hơn rằng các nền dân chủ thực sự đang tồn tại đang bảo vệ các công dân của nó khỏi sự chuyên chế tốt hơn so với việc trao cho họ quyền hành động tập thể, những sự kiểm soát và cân bằng như vậy trong bộ máy ra quyết định được dự định để làm giảm bớt mối đe dọa tiềm ẩn do sự vận động đại chúng tạo ra.

Ba khu vực truyền thống của sự chịu trách nhiệm theo phương ngang – hành pháp, lập pháp, và tư pháp – đã trải qua một sự tái cân bằng. Cơ quan lập pháp có xu hướng suy giảm (quyền lực), trong khi quyền lực hành pháp thay đổi tùy theo chương trình chính sách (với việc tiến hành chiến tranh là một trong những động lực chính cho sự phát triển của nó), và các thẩm phán (đặc biệt là thẩm phán phúc thẩm) đã gia tăng đáng kể quyền lực của mình. Quá trình tư pháp hóa hiến pháp này đã thay đổi đáng kể, với Hoa Kỳ cung cấp một trường hợp cực đoan ở cấp quốc gia và EU tạo ra một lớp thẩm quyền hoàn toàn mới ở cấp độ siêu quốc gia.

15) Việc thành lập một loạt các “thiết chế bảo vệ” là thực sự mới lạ. Các thiết chế như vậy hầu như không tồn tại trước đó, và nơi đâu chúng tồn tại, chúng đóng một vai trò phụ thuộc hơn nhiều, nhưng bây giờ chúng đang cung cấp một loạt những sự kiểm soát tiềm năng đối với các quyết định của các quan chức được bầu hay các nhà lập pháp.11 Đầu tiên và quan trọng nhất trong số các thiết chế như vậy là các ngân hàng trung ương độc lập, được ủy quyền trong thực tế để quyết định các chính sách kinh tế và tài chính. Không có nền dân chủ nào dường như có khả năng hoạt động mà không có chúng. Các ngân hàng trung ương được liên kết với một số lượng lớn các cơ quan quản lý quốc gia độc lập. Ngoài các cơ quan cũ vốn quy định thương mại liên bang, giao thông, y tế công cộng, an toàn lao động, các sản phẩm thực phẩm, thuốc, đạo đức nghề nghiệp, bảo vệ người tiêu dùng, và vân vân, giờ đây chúng ta còn thấy các ủy ban bầu cử, các tòa án nhân quyền và các cơ quan chống tham nhũng. Tất cả những cơ quan này đều được ban cho các đặc quyền (được cân nhắc) theo cách mà trách khỏi sự can thiệp chính trị (nói cách khác, dân chủ) và trao cho các chuyên gia, những người sẽ không khuất phục trước áp lực của công dân hay những người cai trị, hoặc bị tóm lấy bởi những người mà họ có được trao quyền điều hành. Nếu điều này là không đủ, thì những nỗ lực này thường được giúp đỡ bởi các tổ chức toàn cầu như Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Tổ chức Thương mại Thế giới, và vô số các thiết chế thiết lập tiêu chuẩn và củng cố tiêu chuẩn khác. EU không chỉ có ngân hàng trung ương của riêng mình, mà còn có hơn ba mươi cơ quan quản lý khác. Không có người dân nào phàn nàn rằng họ không có ảnh hưởng hữu hiệu lên chính sách; các chính trị gia của họ có thể đứng đằng sau màn của các tác nhân siêu quốc gia và giả vờ rằng họ không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc tuân theo Washington, Brussels, hoặc bất cứ nơi nào.

Không có mô hình rõ ràng nào xuất hiện từ những nỗ lực cải cách được phác thảo ở trên, ngoại trừ rằng, dường như thực tiễn của chủ nghĩa tự do – về chính trị hay kinh tế – sẽ không tạo ra một trạng thái cân bằng và ổn định. Cho đến nay, không có gì rõ ràng. Trong một số trường hợp, có những dấu vết của nền dân chủ “tiền tự do”, với vai trò được tăng cường của nó cho sự tham dự trực tiếp của công dân và sử dụng thường xuyên sự lựa chọn bằng cách rút thăm. Trong một số trường hợp khác, đặc biệt là trong việc phân quyền theo lãnh thổ và sự nhấn mạnh vào tự do thông tin, ta có thể đi đến kết luận rằng nền dân chủ “tự do hơn” đang xuất hiện, đặc biệt là khi các thực tiễn này được kết hợp với các biện pháp thực chất chẳng hạn như bãi bỏ rộng rãi đối với sự kiểm soát các giao dịch thương mại và tài chính, bảo vệ vững chắc hơn cho quyền sở hữu, và loại bỏ hoặc giảm bớt các chính sách bảo trợ xã hội.

Tuy nhiên, hầu hết các cải cách này ẩn trong một cấu hình mới mà có thể gọi là “hậu tự do.”12 Một cấu hình như vậy sẽ được bắt rễ trong sự mở rộng tham vấn cộng đồng về các vấn đề chính sách và ngân sách, các định nghĩa rộng hơn về quyền công dân, công khai tài chính của các đảng chính trị và các tổ chức xã hội dân sự do người dân lựa chọn, các hạn ngạch cho phụ nữ, “các thiết chế bảo vệ” được thiết kế để bảo vệ người dân khỏi lừa đảo và bóc lột, tạo ra các “ủy ban tương lai” để kiểm tra tác động tiềm năng của các quyết định của chính phủ, và sự gia tăng của những cá nhân tự lựa chọn tuyên bố đại diện cho một sự đa dạng rộng lớn hơn của các mục đích và nhiệm vụ.13

Một đặc trưng khác, ít rõ ràng hơn của loại dân chủ đang nổi lên này là sự gắn liền không rõ ràng của nó với nhà nước quốc gia. Phần lớn những gì mà hình thức dân chủ này đang tìm cách thực hiện sẽ đòi hỏi sự đồng ý thụ động hay sự hợp tác chủ động vượt qua các ranh giới của nó, lên đến và bao gồm cả việc hình thành các chuẩn mực và các thiết chế siêu quốc gia. Câu châm ngôn rằng nền dân chủ thực sự đang tồn tại chỉ có thể thực hành trong các nhà nước dân tộc đang thực sự tồn tại dường như đến lúc bị thử thách.

Bất kỳ sự thay thế cho nền dân chủ tự do”thực sự đang tồn tại” – có lẽ, ngoại trừ cho những sự cai trị nhiều tự do hơn và ít dân chủ hơn – sẽ đi cùng với các vấn đề nghiêm trọng của “tác nhân”. Tuy sự thay thế này dường như hấp dẫn về mặt trí tuệ, thường thì không thể xác định tác nhân nào (hoặc những sự kết hợp nào) sẽ hỗ trợ sự thay đổi như vậy, bao nhiêu chi phí của sự chuyển đổi mà họ sẽ sẵn sàng gánh chịu, và làm thế nào những cải cách có thể được thực hiện thành công và dân chủ. Một khi sự đoạn tuyệt hoàn toàn với các thiết chế và thực tiễn của nền dân chủ tự do trước đó đã bị loại trừ – dường như có vẻ đúng với tương lai gần – rất khó để thấy cơ sở tiềm năng cho dạng hỗ trợ xã hội hoặc chính trị bền vững mà bất kỳ chiến dịch cải cách kết hợp và kiên định nào sẽ cần đến. Cho đến nay, tất cả những gì có thể quan sát là một chuỗi các nỗ lực biệt lập và thăm dò – mà nhiều trong số đó vẫn chưa tạo ra nhiều sự khác biệt. Gần như không thể đánh giá quá cao tiềm năng to lớn được xây dựng trong các thiết chế và thực tiễn của các nền dân chủ đang thực sự tồn tại hiện nay và những khó khăn đi kèm trong việc thuyết phục mọi người chấp nhận những ý tưởng mới về các mối quan hệ chính trị và kinh tế khá cơ bản này.

Các cải cách trước đó mà hiện ăn sâu vào trong nền dân chủ tự do là sản phẩm của những nỗ lực để lấp đầy một khoảng cách rộng lớn giữa những kỳ vọng lý tưởng và sự thực thi thực tế được kinh nghiệm bởi người dân, nhưng hầu như chúng luôn luôn cần, ít nhất, bóng ma, trừ khi mối đe dọa sắp xảy ra, của các cách mạng để làm cho các nỗ lực như vậy có vẻ đáng giá. Tuy nhiên, ngày nay các cuộc cách mạng là rất hiếm, và các thay thế của chúng kiểu khủng bố đã tăng cường hơn là làm suy yếu ý chí để giữ lại nguyên trạng. Những người hiện đang thách thức khả năng và tính hợp pháp của các nền dân chủ đang thực sự tồn tại không phải là kẻ thù được tuyên bố của nó; họ là những người ủng hộ được thừa nhận của nó. Nói cách khác, họ là các công dân và các nhóm người tin rằng họ đang cải thiện nền dân chủ, dù họ không có kế hoạch tốt để làm như vậy. Thật vậy, nhiệm vụ cải cách sẽ được tạo điều kiện rất nhiều nếu các phần tử cực đoan ở cả cánh tả lẫn cánh hữu đang công khai tìm cách thay thế các quy tắc và thực tiễn tự do bằng một số hình thức chính phủ khác, nhưng những nỗ lực của họ hiện nay không nhất quán và không thuyết phục, và theo quan điểm của tôi, họ hầu như vẫn tiếp tục như vậy.

Bao lâu mà các mối đe dọa lớn nhất đối với nền dân chủ đến từ “những người thực hành bình thường” của nó – các cử tri, công dân, đại biểu, lợi ích đặc biệt, các nhà hoạt động phong trào, và “các nhân vật nổi tiếng”, thì sẽ rất khó để thuyết phục các tác nhân như vậy về sự cần thiết cho một gói cải cách toàn diện về thể chế. Trái ngược với quá khứ lịch sử, các biến đổi chính trị như vậy xảy ra khi một nhóm tận tụy, ủng hộ một sự thay thế hợp lý, đã tồn tại và thành công trong việc áp đặt mô hình của nó, ngày nay những gì mà hầu hết công dân kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày của họ là “các triệu chứng của bệnh ” `a la Gramsci – nhiều sự tức giận, bất mãn, bất lực, và không được tối ưu, nhưng hầu như không đủ để khuyến khích họ chuyển sang một mô hình dân chủ hậu tự do, mới lạ, chưa xác định rõ, và cũng như chưa được kiểm chứng.