Con đường trắc trở của Nga

Thông tin chi tiết

Bài báo: Russia’ s Rough Ride (Con đường trắc trở của Nga)

Tác giả: Michael McFaul

Chuyển ngữ: Tuyen Le

Sách: Consolidating The Third Wave Democracies

Biên tập: Larry Diamond và Marc F. Plattner

Hướng dẫn trích nguồn: Michael McFaul. 1997. Russia’ s Rough Ride (Con đường trắc trở của Nga; bản dịch của Tuyen Le). Trong Larry Diamond và Marc F. Plattner (biên tập), Consolidating The Third Wave Democracies, trang 64-94, The Johns Hopkins University Press. Sản phẩm do nhóm Tinh Thần Khai Minh chủ trương chuyển ngữ.

Tải về tại đây:

CON ĐƯỜNG TRẮC TRỞ CỦA NGA

                                                Tác giả: Michael McFaul

                                                Chuyển ngữ: Tuyen Le

                                                Hiệu đính: Minh Anh

Michael McFaul là giáo sư phụ tá khoa học chính trị tại trường đại học Stanford. Ông cũng là nghiên cứu viên của Trung tâm An ninh Quốc tế và Kiểm soát Vũ khí, và Viện Hoover thuộc trường Stanford, cũng như là thành viên cao cấp của tổ chức Từ thiện Carnegie vì hoà bình quốc tế. Một trong những cuốn sách của ông là Chính trị hậu Cộng sản: Triển vọng dân chủ ở Nga và Đông Âu (1993).

Thoạt nhìn, quá trình chuyển đổi và củng cố dân chủ ở Nga – và thế giới hậu cộng sản nói chung – dường như tương tự với quá trình ở các quốc gia khác, và là một phần của làn sóng dân chủ hóa thứ ba. Thảo luận mang tính mô tả về quá trình “chuyển đổi” giúp xác định một cách hiệu quả các nhân tố, các hành động, và những sự ngẫu nhiên liên quan đến quá trình chuyển đổi chế độ thời hậu Cộng sản. Các học giả đã thành công trong việc sử dụng các khái niệm từ Mỹ Latin và Nam Âu như tự do hoá, những người theo đường lối cứng rắn (hard-liners) và những người theo đường lối mềm mỏng (soft-liners), “reforma  vs.  ruptura”, các thỏa thuận, và các cuộc bầu cử để mô tả sự thay đổi của chế độ cộng sản. Những sự phát triển này đã khiến cho việc nghiên cứu về thế giới hậu cộng sản trở thành dòng chủ đạo trong chính trị so sánh.

Tuy nhiên, nghiên cứu về thế giới hậu cộng sản cho thấy một vài độ vênh với mô hình chuẩn về quá trình chuyển đổi và củng cố, cũng như đa dạng các kết quả liên quan đến kiểu chế độ. Càng về phía đông, sự phù hợp với mô hình chuyển đổi và củng cố dân chủ càng ít hơn. Ở biên giới phía Tây của thế giới cộng sản trước đây, các chế độ cai trị ở Trung và Đông Âu – đặc biệt là Hungary, Ba Lan, và Cộng hoà Séc – khá tương tự với các nền dân chủ mới nổi ở những nơi khác. Các quốc gia bên biên giới phía Đông dường như đi theo một quĩ đạo hoàn toàn khác. Các cuộc bầu cử gian lận ở Kazakhstan, việc đàn áp đảng phái chính trị ở Uzbelistan, và nội chiến ở Tajikistan cho thấy rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản không đồng nghĩa với việc tự động dẫn đến một sự chuyển đổi đến dân chủ. Quả thật, sự khác nhau hiện nay về kiểu chế độ giữ Đông và Tây trong thế giới cộng sản trước đây cho thấy rằng các biến số khác như sự phát triển kinh tế xã hội, văn hoá, địa lý và tôn giáo, có thể có một ảnh hưởng lớn đến dạng chế độ cũng như các biến số thể chế và chiến lược thường được kết hợp với mô hình chuẩn về “chuyển đổi” và “củng cố”.

Vậy nước Nga đang đứng ở đâu? Nước Nga giống Hungary hơn hay Uzbekistan hơn? Nó đang hướng đến sự củng cố các thiết chế dân chủ mới ra đời, hay đang dần hướng tới các gốc rễ độc tài “truyền thống” của nó?

Một sự đánh giá về các triển vọng cho sự củng cố dân chủ ở Nga cần giảm bớt sự khác biệt của các biến số văn hoá, lịch sử, địa lý có liên quan và nhấn mạnh những sự khác biệt về mặt cấu trúc và chiến lược của Nga so với mô hình chuẩn. Có hai sự khác biệt đặc biệt quan trọng. Thứ nhất, nước Nga bắt đầu sự chuyển đổi của mình từ một điểm xuất phát khác. Các đặc trưng cụ thể của chủ nghĩa cộng sản – đáng chú ý nhất là không có sở hữu tư nhân, và không có được các tổ chức xã hội độc lập về chính trị, kinh tế, và dân sự, cùng với mô hình tổ chức đa quốc gia của chế độ Xô Viết – khiến cho sự chuyển đổi của Nga là một dự án lớn hơn rất nhiều so với các nước không (có quá khứ) cộng sản. Trong khi các quốc gia trong quá trình chuyển đổi chỉ cần tìm cách để thay đổi hệ thống chính quyền, thì Nga phải thiết lập đồng thời một nhà nước mới, một hệ thống chính trị mới, và một hệ thống kinh tế mới.

Thứ hai, mô hình chuyển đổi của Nga khác so với mô hình chuẩn. Thay vì một sự dàn xếp thông qua đối thoại giữa tầng lớp tinh hoa cũ và tầng lớp tinh hoa mới đối với việc cai quản một lãnh thổ đơn nhất, sự chuyển đổi mang tính cách mạng của Nga được đặc trưng bởi một sự cân bằng phân cực liên quan đến các quan niệm cạnh tranh về chủ quyền cho cùng một lãnh thổ. Thời kỳ chuyển đổi này chỉ kết thúc sau khi một bên đánh bại bên kia, và khi làm như vậy đã phân chia chế độ cũ thành 15 quốc gia mới.

Di sản kinh tế xã hội của chủ nghĩa cộng sản và bản chất cách mạng của sự chuyển đổi đã gây ra một loạt các vấn đề đối với việc củng cố dân chủ ở Nga vốn khác với các vấn đề mà các quốc gia phi cộng sản khác gặp phải. Di sản cộng sản ở Nga và kiểu chuyển đổi đã không định trước một con đường cụ thể mà chế độ mới xuất hiện và củng cố. Thay vào đó, di sản lịch sử này tạo ra những tham số mà từ đó các quyết định chiến lược về mô hình thể chế được tạo ra. Nói cách khác, con đường phụ thuộc là tham số đầu tiên nhưng không phải là tham số duy nhất định hình sự củng cố chế độ hậu cộng sản. Sự củng cố dân chủ ở Nga được hiểu rõ nhất bằng cách lần theo quá trình trong đó tham số về cấu trúc của di sản cộng sản ở Nga và những dấu vết của những sự chuyển đổi cách mạng ở Nga tương tác với các tham số gần gũi và mang tính chiến lược hơn liên quan đến những quyết định về thể chế.

Chế độ cũ (The Ancien Régime)

Có hai đặc trưng phân biệt chế độ cũ với chế độ mà từ đó chính thể Nga mới xuất hiện. Thứ nhất, nhà nước mới được tạo ra từ phần còn lại của chế độ sụp đổ. Trong khi những sự chuyển đổi ở châu Mỹ Latin và Nam Âu bắt đầu và kết thúc trong cùng một lãnh thổ, thì sự chuyển đổi của Nga liên quan đến nhân tố thứ hai – giải phóng dân tộc khỏi Liên bang Xô Viết. Sự thiếu vắng hay sự yếu kém của nhà nước Nga, của chính thể Nga, hay bản sắc dân tộc Nga đã tạo ra các vấn đề khác cần phải giải quyết trước khi sự chuyển đổi hay củng cố có thể diễn ra. Hơn thế nữa, sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết, một điều kiện cần thiết cho sự chuyển đổi dân chủ ở Nga, đã gây xáo trộn đường biên giới giữa và trong các quốc gia độc lập mới của Liên Xô cũ. Như đã được minh chứng bi thảm ở Chechnya, những sự mơ hồ về sự toàn vẹn lãnh thổ này đã làm cản trở quá trình củng cố dân chủ ở Nga .

Thứ hai, chế độ Xô Viết là chế độ toàn trị. Các nhà nước độc tài ở châu Mỹ Latin, Nam Âu, châu Á, và hầu hết các quốc gia ở châu Phi đã không cố gắng kiểm soát tất cả các hành động xã hội, chính trị, kinh tế trong lãnh thổ của mình. Các nhà nước cộng sản ở Đông Âu và Liên bang Xô Viết trước đây đã làm như vậy. Sự thể hiện thành công nhất là ở Liên bang Xô viết – dưới thời Stalin – chế độ toàn trị đã được thực thi. Các chế độ khác ở Đông Âu và các chế độ hậu Satlin ở Liên bang Xô Viết, kém hiệu quả hơn trong việc thi hành sự kiểm soát lên toàn bộ các hoạt động, khiến cho nhiều nhà phân tích của khu vực phải từ bỏ hoàn toàn mô hình toàn trị này. Mặc dù có một sự giảm bớt các phương pháp toàn trị và một sự quan liêu hóa quyền lực kiểu đảng-nhà nước, các chế độ cộng sản không bao giờ tiến hóa thành các chính thể và kinh tế như các nước ở Tây hay Bắc Âu.

Trái với những chế độ không phải là cộng sản, các quốc gia cộng sản không tách biệt giữa chính phủ và chế độ, và có ít sự phân biệt giữa chính thể và kinh tế, và chỉ có một sự phân chia rất nhỏ giữa nhà nước và xã hội. Ngay cả những chế độ độc tài tàn nhẫn nhất trong thế giới phi cộng sản cũng không chiếm đoạt tất cả các phương tiện sản xuất. Tương tự như vậy, không một chế độ độc tài nào đàn áp hay kiểm soát hoàn toàn tất cả các đơn vị của xã hội dân sự. Giống như các chế độ cộng sản, các chế độ độc tài phi cộng sản thi thoảng làm mờ đi sự khác biệt giữa chế độ và chính phủ. Tuy nhiên, những sự lẫn lộn như vậy thường chỉ là tạm thời. Khi các chế độ độc tài sụp đổ hay thoái lui, bộ khung của thể chế nhà nước và những tổ chức cơ bản của xã hội dân sự vẫn còn phù hợp để củng cố chế độ dân chủ. Điều này không đúng đối với các quốc gia hậu cộng sản.

Các thiết chế nhà nước trong chế độ độc tài phi cộng sản cũng ủng hộ kinh tế thị trường dựa trên quyền sở hữu tư nhân. Do đó, các xã hội phi cộng sản được tổ chức tương tự hệ thống thị trường tư bản chủ nghĩa. Trong một số trường hợp, trong các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, cải cách kinh tế đã đi cùng với quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ, nhưng sự chuyển đổi kinh tế chưa bao giờ nằm trong chương trình nghị sự.

Điểm xuất phát này của sự chuyển đổi dân chủ đã mang đến cho Nga và các nhà nước cộng sản khác những con đường khác để đi đến một chế độ mới. Cải cách dần dần không phải là một lựa chọn. Trong khi người ta có thể hiểu được về một chế độ phi độc tài mà trong đó kinh tế và xã hội được kiểm soát và điều hành bởi nhà nước, thì không phải lý thuyết dân chủ tự do hay thực tại kinh nghiệm đã quy định một chế độ như vậy. Sự thay đổi chính trị trong một nhà nước toàn trị đồng nghĩa với một sự thay đổi toàn bộ mọi khía cạnh của tổ chức kinh tế và xã hội.

Sự chuyển đổi mang tính cách mạng

Nghiên cứu về sự chuyển đổi dân chủ ở các chế độ phi cộng sản cho thấy rằng sự thất  bại của chế độ tạo ra sự khủng hoảng niềm tin vào các nhà cầm quyền, mà một lần nữa dẫn đến sự phân chia giữa những người có đường lối cứng rắn, tìm cách duy trì nguyên trạng và những người có đường lối mềm mỏng, tìm cách cải cách chế độ độc tài này. Một khi sự phân chia này kết tinh, thì những người có đường lối mềm mỏng tìm kiếm đồng minh trong nhóm ổn hòa của phía chống đối. Với những người ôn hoà này và với sự loại bỏ các lực lượng cấp tiến trong xã hội, cánh tự do của chế độ cầm quyền sẽ đàm phán về một sự chuyển đổi dần dân và có kiểm soát từ chế độ độc tài. Không phải tất cả sự chuyển đổi từ chế độ độc tài được thực hiện qua “thỏa thuận”, nhưng phần lớn sự chuyển đổi thành công sang dân chủ bao gồm một số đồng thuận giữa các lực lượng chính trị ganh đua.

Trường hợp Xô Viết ban đầu đi theo trình tự này. Vào cuối thập niên 1970, những sai lầm của chế độ Xô Viết dường như trở nên hiển nhiên. Sau cái chết của Konstantin Cherneko năm 1985, sự thất bại của chế độ đã gây ra sự chia rẽ giữa những người có đường lối mềm mỏng, đứng đầu là Mikhail Gorbachov và những người có đường lối cứng rắn, mà người đại diện đầu tiên là Giorgy Romanov và sau này là Yegor Ligachev. Chính sách tự do hoá xã hội của Gorbachov, vốn theo sau sự hình thành hai phe đối lập này, có rất nhiều đặc trưng trong thời kì tự do hoá ở các chế độ phi cộng sản.

Tuy nhiên, giai đoạn mong đợi tiếp theo của sự chuyển đổi đã không diễn ra. Thay vì một mặt tạo ra sự phân cực giữa những người có đường lối mềm mỏng và những người có đường lối cứng rắn trong chế độ cũ và mặt khác giữa những người ôn hoà và những người cấp tiến trong xã hội, tự do hoá ở Nga đã dẫn đến phân cực giữa nhà nước Xô Viết và xã hội Nga. Các tổ chức xã hội vốn hình thành trong giai đoạn này ban đầu liên minh với Gorbachev chống lại những người có đường lối cứng rắn trong nhà nước-đảng Xô Viết. Tuy nhiên, vào năm 1990 chính các tổ chức này được lãnh đạo bởi Boris Yeltsin và Đảng Dân chủ Nga đã quay lại chống lại Gorbachev khi mà nhà lãnh đạo Xô Viết này từ chối ủng hội lời kêu gọi “cách mạng” của họ cho chủ quyền quốc gia, nền kinh tế thị trường, và thể chế dân chủ tự do. Phản ứng chống lại các nhà dân chủ Nga của Gorbachev đã gây ra một sự bế tắc chính trị trong đó cả hai phía đều từ chối đối thoại cho các quy tắc chính trị mới. Sự bế tắc này lên đến đỉnh điểm vào tháng 8 năm 1991 khi Yeltsin và phong trào dân chủ Nga giành chiến thắng.

Phương thức chuyển đổi này – đối đầu thay vì thương lượng, cách mạng thay vì dân dần –  khác với mô hình chuẩn về chuyển đổi dân chủ ở một số phương diện quan trọng. Thứ nhất, sự chuyển đổi của Nga đã tạo ra một mức độ không chắc chắn và mơ hồ liên quan đến quá trình chuyển đổi này. Trong tất cả các quá trình chuyển đổi, các nguyên tắc của trò chơi vốn định nghĩa các tham số của sự cạnh tranh chính trị trở nên không chắc chắn. Tuy nhiên, những sự chuyển đổi không mang tính cách mạng dễ đoán định hơn sự chuyển đổi mang tính cách mạng ở một vài khía cạnh quan trọng. Ví dụ, các chức năng và ranh giới cơ bản của thể chế nhà nước thường xuyên là hệ quả của sự đàm phán giữa các nhà cai trị cũ với những người thử thách ủng hộ cho nền dân chủ, và được hệ thống hoá trước khi chính thể được mở rộng để chứa đựng những sự tranh cãi rộng lớn hơn. Nếu như chế độ độc tài đương nhiệm vẫn còn tương đối kết dính và quyền lực, nó có thể đề ra rất nhiều các qui tắc đối với các nhân tố chính trị khác. Ở các quốc gia mà chế độ sắp mãn nhiệm không quá mạnh thì dẫn đến các thỏa thuận. Tiêu biểu, những người có đường lối mềm mỏng tìm kiếm các nhân tố hôn hòa và có tinh thần hợp tác trong phe đối lập để phát triển một “nhận thức đầu tiên – nền tảng cho các thoả thuận cuối cùng” .

Tuy nhiên, trong sự chuyển đổi Xô Viết/ Nga không một luật lệ nào được đàm phám để phác họa ra con đường từ chế độ cũ đến chế độ mới. Đúng hơn, nhiều tác nhân tuyên bố chủ quyền trên cùng một lãnh thổ. Điều này chấm dứt khi mà một bên, được lãnh đạo bởi Boris Yeltsin, cuối cùng đã đoạt lấy quyền lực từ bên kia – chế độ Xô Viết của Gorbachev – trong một thời điểm rất không chắc chắn ngay sau cuộc nổi dậy tháng 8 năm 1991. Phương thức chuyển đổi này đã làm cho rất nhiều nguyên tắc của trò chơi mơ hồ, không được hệ thống, và liên tục chịu sự thao túng. Tổng thống Xô Viết là người đứng đầu nhà nước hay Tổng thống Nga mới là người nắm giữ quyền hành pháp? Đảng Cộng sản Liên bang Xô Viết nên được xem là một trong nhiều đảng chính trị, hay tốt hơn là xem nó như một tổ chức tội phạm đã cầm tù các dân tộc trong lãnh thổ Xô Viết? Quan trọng nhất, đâu là biên giới của nhà nước mới?

Phương thức chuyển đổi mang tính cách mạng của Nga không chỉ thách thức sự tồn tại của thể chế chính trị mà còn cả hệ thống kinh tế. Tất nhiên, trong quá trình chuyển đổi ở các chế độ phi cộng sản, nhiều phong trào dân chủ đã đem các vấn đề kinh tế vào quá trình đàm phán. Tuy nhiên, trong các quá trình chuyển đổi dân chủ phi cộng sản, toàn bộ hệ thống kinh tế không bao giờ bị thử thách. Một nguyên tắc ngầm trong những sự chuyển đổi không mang tính cách mạng là quyền tư hữu không bị thách thức. Như Adam Przeworski đã nhận xét, “Rất có thể là sự chuyển đổi sang dân chủ được tạo trong khi giữ nguyên các quan hệ kinh tế, không chỉ cơ cấu sản xuất, mà thậm chí sự phân phối thu nhập.”

Mặc dù vậy, trong sự chuyển đổi của nước Nga, sự chuyển đổi kinh tế trở thành một vấn đề trung tâm trong chương chình nghị sự. Vào năm 1990, sự thất bại ê chề của hệ thống chỉ huy của Liên Xô (và những cố gắng cải cách hệ thống này dưới thời Gorbachev) đã thúc đẩy nhu cầu phổ biến cho sự chuyển đổi kinh tế cấp tiến. Vào cuối những năm 1990, sự thiếu đồng thuận về một mô hình kinh tế mới đã tạo thành sự phân cực khác giữa những nhà cải cách ôn hoà trong chế độ với những người thách thức cấp tiến từ bên ngoài . Khi chế độ cũ sụp đổ vào tháng 8 năm 1991, những người thách thức có được cơ hội để theo đuổi sự chuyển đổi kinh tế và thay đổi  một cách tức thời.

Một tiến trình phức tạp

Trong tiến trình dân chủ hoá ở Mỹ Latin và Nam Âu, các quy tắc của trò chơi được đàm phán trong suốt quá trình chuyển đổi hướng dẫn cho quá trình củng cố. Ở thời gian của các cuộc bầu cử, sự tổ chức và đặc biệt là sự phân chia quyền lực trong nhà nước, thậm chí là danh mục các vấn đề để mở cho thảo luận đã được quyết định trước. Thông thường, các thiết chế dân chủ hiện hành từng không được thực thi nay được kích hoạt lại. Trên thực tế, nhiều thiết chế của chính phủ đã trải qua rất ít thay đổi; mà chỉ đơn thuần là tiến trình kiểm soát chúng đã thay đổi. Bộ giáo dục hiếm khi thay đổi hình thức, các cơ quan chính quyền địa phương vẫn thế, và ngay cả tổ chức cơ bản của lực lượng vũ trang cũng vẫn được giữ nguyên. Quan trọng nhất, những nguyên tắc tổ chức kinh tế cơ bản đã không được xem xét lại trong suốt quá trình củng cố. Tất cả các quốc gia ở Nam Âu, Mỹ Latin, châu Phi và châu Á có nền kinh tư bản chủ nghĩa trước và sau khi chuyển đổi sang nền dân chủ.

Ở Nga, chương trình nghị sự sau quá trình chuyển đổi bao gồm hầu hết các khía cạnh của hoạt động kinh tế và chính trị, làm cho sự củng cố dân chủ trở thành một quá trình toàn diện và phức tạp hơn. Tháng 8 năm 1991, Nga không phải là một nhà nước có chủ quyền; Nga không có chủ quyền về biên giới, không có chủ quyền về tiền tệ, không có chủ quyền về quân đội và các thiết chế nhà nước yêu, tổ chức yếu kém. Sau tháng 12 năm 1991, với thoả thuận thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập, vị trí chính trị, lãnh thổ và tâm lý của Nga vẫn không chắc chắn. Trên toàn Liên bang Xô Viết cũ, 30 triệu người sắc tộc Nga trở thành người tha hương sau một đêm, đồng thời các dân tộc thiểu số trong Liên bang Nga đã xúc tiến cho nền độc lập của chính họ.

Nếu các tham số về nhà nước Nga mơ hồ cả về mặt lãnh thổ lẫn tri thức, thì các nguyên tắc để quản lý một thực thể chính trị vô định hình như vậy thậm chí còn không chắc chắn hơn. Khi Yeltsin được cho thực sự kiểm soát phần nước Nga thuộc Liên bang Xô Viết vào tháng 8 năm 1991, ông không bị kìm chế hay được hướng dẫn bởi mô hình thể chế được hình thành qua thảo luận. Trước và ngay sau khi Liên bang Xô Viết sụp đổ, không có sự phân chia quyền lực giữa các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp, cũng không có sự phân ranh giới quyền lực giữa các cấp chính quyền khác nhau được thiết lập trong Liên bang Nga.

Tuy nhiên, Yeltsin không phải được trao cho một tấm bảng trắng (tabula rasa) để từ đó tạo ra một thể chế mới. Những yếu tố lập hiến của hệ thống Xô Viết cũ vẫn còn đó. Trong khi mô hình chuyển đổi mang tính cách mạng, và đột ngột của Nga đã loại bỏ các nguyên tắc chỉ dẫn cho quá trình chuyển đổi, bản chất hòa bình của quá trình chuyển đổi cũng cho phép nhiều cá nhân, thể chế, và lực lượng xã hội được trao cho các quyền và sức mạnh nhất định trong chế độ cũ để tiếp tục đóng vai trò kinh tế và chính trị quan trọng trong kỷ nguyên hậu cộng sản. Không giống với sự chuyển đổi được thoả thuận trong trong hoàn cảnh phi cách mạng, vai trò của các nhân tố và thể chế cũ này không được phác thảo trước tháng 8 năm 1991, nhưng không như trong cách mạng bạo lực, các lực lượng này không bị đàn áp và tiêu diệt.

Thêm vào đó, Yeltsin cũng bị giới hạn bởi các di sản về thể chế của trong giai đoạn chuyển đổi, mà ông và các nhà đấu tranh cách mạng của mình đã cố gắng tạo ra . Có lẽ quan trọng nhất, hệ thống Xô Viết – đầu tiên được làm mới bởi Gorbachev và sau đó được hợp pháp hóa hơn nữa bởi Yeltsin – vẫn còn đó như là cơ chế quản lý trung tâm của Nga. Cuộc bầu cử các Nghi sĩ của Quốc hội Nga và thượng viện của nó, Xô Viết tối cao, mang đến cho các thể chế một cơ sở vững chắc cho sự cai trị. Sự quay trở lại với chính trị của bản thân Yeltsin có thể xảy ra được là do những cơ quan được lựa chọn này. Trong khi tranh cãi trong phe dân chủ, quyết định chiến lược của Yeltsin và các nhà dân chủ tham gia vào các cuộc bầu cử này đã củng cố tính chính danh của Soviet như là các cơ quan của bộ máy chính phủ mới ra đời của Nga. Nghịch lý là, Yeltsin và những người dân chủ muốn nhìn hệ thống thể chế tích hợp theo chiều dọc này, đặc biệt là cơ quan cao nhất, Đại hội đại biểu nhân dân, như là chướng ngại vật lớn nhất đối với cải cách kinh tế và chính trị.

Ngoài những người Xô Viết ra, vấn đề chủ quyền vốn được đưa trước tiên khi thúc đẩy sự chuyển đổi dân chủ của Nga đã cản trở sự củng cố dân chủ. Phong trào dân chủ của Yeltsin đã tích cực thúc đẩy chủ quyền, ở cả Liên bang Xô Viết và Liên bang Nga, như là một chiến lược để thúc đẩy kế hoạch đối lập của nó. Năm 1989, các nhà dân chủ Nga đã liên kết các nhà dân tộc của các nước Baltic trong Đại hội đại biểu nhân dân Xô Viết để kêu gọi cho quyền tự trị lớn hơn đối với tất cả các nước cộng hoà. Vào năm 1990, Yeltsin đã công khai đấu tranh cho nền độc lập của Nga, đồng thời khuyến khích các nước cộng hoà tự trị trong Liên bang Nga “tóm lấy nhiều chủ quyền như họ có thể”. Trong cuộc đấu tranh cho chủ quyền của Nga, Yeltsin giành được sự ủng hộ của các đại biểu Nga, các nhà dân chủ dân chủ và những người cộng sản, những người tìm sức quyền lực lớn hơn cho thể chế của chính họ. Trong ủng hộ quyền tự chủ địa phương, Yeltsin đã lôi kéo sự ủng hộ của các lãnh đạo khu vực, bao gồm một số quan chức Đảng Cộng sản địa phương. Tuy nhiên, giống như di sản của soviet, thành công của Yeltsin với lá bài chủ quyền trong giai đoạn chuyển đổi đã trở thành nỗi ám ảnh ông trong giai đoạn củng cố, khi mà một vài nước cộng hoà trong Liên bang Nga cố gắng giành lấy một sự độc lập hoàn toàn.

Chế độ tổng thống là một sự đổi mới thể chế khác đến từ thời kì chuyển đổi mà ban đầu tạo điều kiện cho sự chuyển đổi dân chủ nhưng sau đó lại cản trở quá trình củng cố. Ý tưởng về một tổng thống Nga lần đầu tiên được thừa nhận trong phe đối lập dân chủ vào năm 1990, khi mà sự kiểm soát tạm thời của Yeltsin đối với Đại hội đại biểu nhân dân ngày càng trở nên rõ ràng. Nhân dân chắc chắn ủng hộ Yeltsin nhưng phần lớn đại biểu thì không. Để biến sự ủng hộ phổ biến vào trong quyền cai quản có hiệu quả, nhóm của Yeltsin đã biện hộ việc tạo ra một tổng thống do nhân dân bầu. Họ tính toán chính xác rằng cả ý tưởng này (được chấp nhận trong cuộc trưng cầu dân ý vào tháng 3, 1991) và sự ứng cử của Yeltsin sẽ được ửng hộ bởi cử tri Nga. Sự vội vàng tạo ra chức vụ, để Yeltsin được trúng cử, và do đó đã cứu ông không bị Quốc hội phế truất khỏi quyền lực, những kiến trúc sư của hệ thống tổng thống Nga đã quên không quy định rõ ràng các quyền lực theo hiến pháp của tổng thống và sự phân chi quyền lực giữa tổng thống và Đại hội đại biểu nhân dân (Quốc hội).

Quyết định về thể chế (Decisions About Institutions)

Yeltsin và những người ủng hộ ông phải đối mặt với những trở ngại vô cùng lớn khi củng cố nền dân chủ trong làn sóng sự sụp đổ của Liên Xô. Tuy nhiên, quá trình củng cố sau tháng 8 năm 1991, không được định trước bởi sự trao tặng về thể chế và kinh tế xã hội từ chế độ Xô viết cũ hay mô thức chuyển đổi mang tính lịch sử. Hoạt động trong sự giới hạn của những di sản như vậy, Yeltsin và những người đồng chí của mình đã tạo ra hay từ chối đưa ra vài quyết định quan trọng liên quan đến các thiết chế chính trị mới của Nga. Đặc biệt, giây phút phấn khích ngay sau chiến thắng trước những người đảo chính tháng 8, 1991 đã mang lại cơ hội để xây dựng thể chế dân chủ mới và từ đó củng cố nền dân chủ mới của Nga. Cơ hội này đã bị bỏ phí.

Yeltsin thực hiện một số bước đi quan trọng đầu tiên hướng tới việc chuyển đổi hệ thống chính trị Liên Xô khi ông ra cấm Đảng Cộng sản Liên Xô (CPSU), làm cho các bộ của Liên Xô phục tùng nhà nước Nga, và đáng kể nhất là vào tháng 12, 1991, giải tán Liên bang Xô Viết. Tuy nhiên, đồng thời Yeltsin đã thất bại trong việc thực hiện một số bước đi quan trọng khác. Ông đã không thúc đẩy áp dụng một hiến pháp mới, mặc dù bản thảo đầu tiên về luật cơ bản được đưa ra bởi Uỷ ban Hiếp pháp Xô Viết Tối cao (Yeltsin chủ trì) đã lưu hành vào đầu tháng 10, 1990 . Chế độ mới của Yeltsin đã thực hiện rất ít để thể chế hóa sự ủng hộ phổ biến của nó trong xã hội. Bất chấp những lời khẩn cầu từ phong trào dân chủ Nga, Yeltsin đã đã từ chối tiến hành các cuộc bầu cử quốc hội mới, mặc dù các cuộc bầu cử vào mùa thu năm 1991 chắc chắn làm tạo ra một hánh lập pháp mang tính cải cách hơn và kích thích sự phát triển của một hệ thống đa đảng . Yeltsin cũng không thiết lập một đảng chính trị cho riêng mình, một quyết định đi đến chống lại mong muốn của cố vấn chính trị thân cận nhất của ông, Gennady Burbulis . Yeltsin cũng đã trì hoãn các cuộc bầu cử đối với người đứng đầu khu vực địa phương, vốn đã được lên kế hoạch vào tháng 12, 1991, và thay vào đó là bổ nhiệm những người đứng đầu. Cuối cùng, Yeltsin đã không xóa bỏ nhiều tổ chức chính quyền trong thời kì Xô Viết, bao gồm và quan trọng nhất là Xô Viết tối cao, Đại hội đại biểu nhân dân. Các quyết định này đã làm cản trở quá trình củng cố dân chủ ở Nga.

Thay vì tập trung vào cải cách chính trị, Yeltisin và chính quyền mới của mình lại sử dụng sự ủy thác chính trị của mình để thực hiện chuyển đổi kinh tế. Khát khao tránh những gì mà họ xem là sai lầm của Gorbachev – đặt chính trị lên trước kinh tế – đội ngũ của Yeltsin đã tập trung sức lực vào việc xóa bỏ nền kinh tế chỉ huy Xô Viết và tạo ra hệ thống kinh tế thị trường Nga mới. Trong thực tế, nhiều người trong chính phủ mới của Yeltsin tin rằng sự chuyển đổi kinh tế là điều kiện tiên quyết cho sự củng cố dân chủ . Nếu không có sở hữu tư nhân, các cử tri Nga không biết đâu là những lợi ích chính trị của mình. Theo quan điểm của họ, sự xuất hiện của thị trường và sở hữu tư nhân sẽ biến đổi xã hội Nga, tạo ra sự phân tầng xã hội mà từ đó các đảng phái mới có thể phát triển. Cho đến khi các tầng lớp mới này xuất hiện, chỉ các tổ chức chính trị đại diện cho những lợi ích cũ mới thu hút được đa số cử tri. Theo đó, các lý thuyết gia này cho rằng, dân chủ trong thời kỳ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường là chống lại các mục tiêu của cải cách thị trường. Những người lớn tiếng nhất ủng hộ logic này đã biện hộ cho kiểu chế độ độc tài Pinochet như một giai đoạn tạm thời giữa chủ nghĩa cộng sản mệnh lệnh và nền dân chủ tư bản.

Kì cùng Yeltsin đã không theo đuổi sự cũng cố dân chủ lẫn chế độ độc tài. Ông trì hoãn việc tạo ra các thiết chế dân chủ mới và thay vào đó là ghép tên và chức năng mới cho các thiết chế độc tài Xô Viết cũ. Đại hội đại biểu nhân dân nắm giữ vai trò của một quốc hội, một chức năng mà nó không bao giờ được thiết kế để đảm nhận. Các lãnh tụ đảng cộng sản ở địa phương được chỉ định trước đó bởi Đảng Cộng sản Liên Xô trở thành người đứng đầu chính quyền địa phương nay được bổ nhiệm bởi tổng thống. Các thư ký Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản trở thành các phó thủ tướng; Đảng Cộng sản Liên Xô, apparatchiki, trở thành nhánh hành pháp, apparatchiki. Tất nhiên, những nhân vật cách mạng, bao gồm Yegor Gaidar, ban đầu nắm giữ các vị trí đứng đầu trong nội các. Tuy nhiên, chỉ hơn một năm, Yeltsin đã thay thế gần như toàn bộ những nhà cải cách cấp tiến bằng các quan chức của chế độ Xô Viết.

Có lẽ đây là cách duy nhất để tránh nội chiến hay sự khôi phục chế độ cộng sản, nhưng biện pháp nửa vời của Yeltsin liên quan đến cả củng cố dân chủ lẫn độc tài đã để lại những vẫn đề quan trọng chưa được giải quyết về mô hình thể chế của Nga, làm chậm sự phát triển của các thành phần trung tâm của sự củng cố dân chủ, và do đó là làm suy yếu sự ủng hộ cho chính ý tưởng về sự cai trị dân chủ. Hai vấn đề thể chế căn bản gây ra bế tắc và chia rẽ tiến trình cải cách chính trị và kinh tế ở Nga là: mối quan hệ lập pháp – hành pháp và mối quan hệ liên bang.

Tình trạng mơ hồ liên quan đến mối quan hệ giữa Moscow và các bộ phận cấu thành của nó trước tiên đe doạ đến sự chuyển đổi dân chủ ở Nga. Vào năm 1990, các lực lượng ly khai đã được cởi trói với sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết và được thúc đẩy bởi tuyên bố chính thức của Yeltsin vốn thách thức sự thống nhất lãnh thổ của nhà nước Nga mới. Ngay sau nỗ lực đảo chính vào tháng 8, Chechnya tuyên bố sự độc lập của mình. Vào tháng 3 năm sau, Tatarstan đã tổ chức thành công cuộc trưng cầu dân ý cho một sự độc lập hoàn toàn. Những cuộc đàm phán về một hiệp ước liên bang kéo dài mà không có giải pháp cho đến tận mùa hè năm 1993, thúc đẩy một số nước cộng hoà và các vùng khác đưa ra tuyên bố độc lập của mình, hoàn tất với lá cờ của mình, phong tục của riêng họ, và đe đoạ tiến đến việc đúc ra các loại tiền tệ mới .

Cuộc khủng hoảng thể chế này giữa trung tâm và ngoại vi có thể biến thành cuộc xung đột vũ trang nếu sự bế tắc giữa những nhánh khác nhau của chính quyền trung ương không được giải quyết. Như đã đề cập ở trên, sự mơ hồ về thể chế giữa các nhánh hành pháp và lập pháp cũng là một di sản lịch sử của sự chuyển đổi bị phân cực giữa Nga và Liên bang Xô Viết. Ngay sau nỗ lực nổi dậy, sự mơ hồ về thể chế không có một tác động trực tiếp đến chính trị, khi mà phần lớn các đại biểu trong Đại hội đại biểu nhân dân (và Xô Viết tối cao) ở thời điểm đó ủng hộ Yeltsin. Ruslan Khasbulatov, người kế nhiệm Yeltsin như là chủ tịch Quốc hội được xem là đồng minh thân cận của Yeltsin. Quyết định của Quốc hội vào tháng 11, 1991 trao cho Yeltsin một quyền lực vô hạn phản ánh sự hỗ trợ lẫn nhau này. Tuy nhiên, sau khi tự do hoá về giá cả và bắt đầu cải cách kinh tế cấp tiến vào tháng 2 năm 1992, Xô viết tối cao Nga và Quốc hội bắc đầu một chiến dịch tái khẳng định quyền tối cao của mình so với tổng thống . Với việc không có thể chế để tổ chức mối quan hệ giữa Quốc hội và Tổng thống, sự phân cực lại bắt đầu một lần nữa. Thậm chí sau khi trưng cầu dân ý chiến thắng của Yeltsin tháng 4, 1993, Quốc hội vẫn tiếp tục ngăn chặn những sáng kiến hành pháp, hạn chế quyền lực của bộ trưởng, thông qua luật mà mâu thuẫn với sắc lệnh của Yeltsin. Trong mùa hè năm 1993, khi Đại hội đại biểu hội đồng nhân dân lần thứ 10 được tổ chức vào mùa thu, các đại biểu Quốc hội đã chuẩn bị hàng loạt sửa đổi hiến pháp mà sẽ loại bỏ hoàn toàn chức vụ tổng thống . Để ngăn chặn sự xụp đổ của mình, Yeltsin đã giải tán Quốc hội vào tháng 9, 1993, một động thái mà một lần nữa đã tạo ra một sự cân bằng sức mạnh bi kịch giữa quốc hội và tổng thống vào tháng 10. Một lần nữa, khi vào tháng 8, 1991, sự thất bại của tất cả các nhà chiến lược trong việc đàm phán về các nguyên tắc mới của trò chơi cho sự ganh đua chính trị ở Nga đã gây ra sự bế tắc, phân cực, và đối đầu vũ trang.

Sự tan rã của xã hội chính trị

Hàng loạt những quyết định không thỏa đáng của Yeltsin liên quan đến cải cách chính trị sau sự sụp đổ của Liên bang, và kéo theo các khủng hoảng thể chế những năm 1992, 1993 đã làm cản trở sự xuất hiện và phát triển của các yếu tố khác của một nền dân chủ được củng cố. Thứ nhất, xã hội chính trị Nga rõ ràng bị tan rã trong giai đoạn 2 năm này. Trước tháng 8 năm 1991, các đảng chính trị ở Nga đã bắt đầu nẩy nở . Tổ chức kinh tế xã hội của hệ thống Liên Xô đã cản trở sự phát triển của các đảng phái mang tính ý thức hệ, và dựa trên lợi ích; chỉ sau khi xuất hiện thị trường và sở hữu tư nhân các đảng phái mới có thể phát triển các cơ sở xã hội riêng biệt và đại diện cho quyền lợi vật chất nào đó . Ngoài ra, phương thức chuyển đổi của Nga cũng cản trở sự phát triển của đảng phái. Thời kì dẫn đến cuộc đảo chính tháng 8 năm 1991 cho thấy không gian chính trị chỉ có 2 nhóm – nhóm bảo thủ (Gorbachev, chế độ Xô Viết, và những người cộng sản) và đối thủ của nhóm này (Yeltsin, Đảng dân chủ Nga, và các nhà dân chủ). Trước tháng 8 năm 1991, phần lớn các đảng phái chính trị mới đã nhận thấy ràng buộc của sự phân cực này và đã tham gia vào phe này hay phe kia, nhưng tất cả các đảng có khuynh hướng dân chủ đã đoán trước và chuẩn bị cho sự kết thúc của thời kỳ chuyển đổi phân cực này và bắt đầu sự củng cố mô hình đa đảng.

Tuy nhiên, sự tham gia vào chính trị của các đảng phái chính trị Nga đã không diễn ra ngay sau khi sự sụp đổ của chế độ cũ . Nếu Yeltsin kêu gọi một cuộc bầu cử trong làn song của sự hỗn loạn của cộng sản và sự sụp đổ của Liên Xô, thì con đường phát triển hệ thống đa đảng ở Nga có thể đã rất khác. Các đảng có khuynh hướng cải cách trong giai đoạn này như Đảng Dân chủ, Đảng Dân chủ xã hội, Đảng Cộng hoà, và một số ủng hộ đảng nước Nga Dân chủ có thể chiếm đa phần số phiếu; Đảng cộng sản đã bị cấm và không được ưa thích ở thời điểm đó, trong khi nền tảng của các nhóm dân tộc cực đoan như Đảng Dân chủ tự do (LDP) của Vladimir Zhirinovsky vẫn chưa xuất hiện .  Do đó, nếu các cuộc bầu cử được tổ chức ngay sau khi Liên Xô sụp đổ thì có thể đã tạo ra một cơ quan lập pháp mới được tổ chức theo kiểu đa dẩng, nhưng được chi phối bởi các tổ chức chính trị có khuynh hướng cải cách.

Quyết định không tổ chức cuộc bầu cử của Yeltsin vào năm 1991 có nghĩa rằng các đảng phái chính trị ở Nga hầu như không có vai trò gì trong hai năm tiếp theo. Các phe phái được hình thành trong Xô viết tôi cao và Quốc hội, nhưng các nhóm nghị sĩ này thiếu nguyên tắc nội bộ và chỉ duy trì sự liên lệ rời rạc với các tổ chức đảng bên ngoài Quốc hội . Những sáng kiến bê ngoài nhằm tái tổ chức tổ chức các nghĩ sĩ theo các đảng phái, như Liên minh Dân sự cuối cùng đã thất bại, đặc biệt là sau khi nền chính trị Nga bị phân cực một lần nữa giữa nhánh hành pháp và Quốc hội trong suốt mùa Xuân năm 1993. Không đảng phái nào có vai trò trong việc hình thành chính phủ. Trái lại, một sắc lệnh của Yeltsin từ năm 1991 mà ban đầu được thiết kế để thanh lọc giới quan chức chính phủ và các doanh nghiệm khỏi sự kiểm soát của Đảng Cộng sản cũng không khuyến khích các quan chức chính quyền không thuộc cộng sản tham gia tích cực vào các đảng phái. Chính Yeltsin, cũng giống như những nhà hành pháp trong các nền dân chủ mới, là phi đảng phái một cách có chủ ý và kiên quyết chống lại một đảng tổng thống . Có lẽ quan trọng nhất, đó là quyết định trì hoãn bầu cử đối với thống đốc, thị trưởng và các quan chức địa phương của Yeltsin đã kìm chế sự phát triển của đảng phái bên ngoài Moscow.

Do đó, hàng tá đảng phái vốn ra đời trong thời kỳ hoàng hôn của kỷ nguyên Xô Viết đã biến mất ở thời điểm cuộc bầu cử đa đảng thực sự đầu tiên của Nga vào tháng 12 năm 1993. Với sự đại diện nghèo nàn trong nghị viện, không có một bộ trưởng nào trong chính phủ, tiếp cận khó khăn với chức vụ tổng thống, và không có cơ hội để tham gia vào chính trị địa phương, các đảng này đã không thể điều hòa lợi ích giữa nhà nước và xã hội. Trong khoảng trống đó, các thoả thuận nghiệp đoàn giữa các nhóm lợi ích ngành và nhà nước xác định hệ thống trung gian về lợi ích trong suốt thời kỳ này, một di sản mà tiếp tục ảnh hưởng lên mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội ở Nga hiện nay . Sự thiếu vai trò tích cực của đảng phái trong suốt thời kỳ này cũng đã làm mất tín nhiệm hơn nữa ý tưởng về một hệ thống đa đảng. Đáng kể, chỉ duy nhất một đảng cải cách và hai đảng đối lập từ kỷ nguyên Xô Viết – Đảng dân chủ Nga (lãnh đạo bởi Nikolai Travkin), Đảng Cộng sản của Liên bang Nga (CPRF) (được lãnh đạo bởi Gennady Zyuganov) và Đảng Dân chủ tự do của Zhirinovsky – mới vượt quá ngưỡng 5% phiếu bầu trong cuộc bầu cử tháng 12 năm 1993. Trong cuộc bầu cử được tổ chức vào năm 1995, không một đảng cải cách nào từ năm 1991 có thể vượt qua được ngưỡng này.

Kinh tế và xã hội dân sự (Economic and Civil Society)

Trong các quá trình chuyển đổi vốn thương lượng lại các nguyên tắc của chính phủ mà không giải quyết các vấn đề chuyển đổi kinh tế, xã hội dân sự được làm hồi sinh trong thời kì tự do hoá như là điềm báo trước cho sự dân chủ hoá . Bởi loại hình hệ thống kinh tế đã không được đặt ra trong quá trình chuyển đổi phi cách mạng, xã hội dân sự mà vốn đã thâm nhập vào trong và được xây dựng bởi một nền kinh tế thị trường có thể xuất hiện nhanh chóng trong thời kỳ tự do hoá để tập hợp các mối quan tâm, tổ chức các nhóm xã hội, và cuối cùng hỗ trợ cho quá trình dân chủ hoá. Ở Nga, có rất ít hoặc không có cái gọi là xã hội dân sự nổi lên. Các hiệp hội, tổ chức độc lập, thậm chí là các đảng nguyên thuỷ hình thành trong thời kì thống trị của Gorbachev. Xã hội dân sự nguyên thuỷ này mới vừa xuất hiện khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ. Các tổ chức xã hội dân sự đã không có thời gian hay cơ hội để phát triển thành các tổ chức tự trị hữu hiệu mà có thể ảnh hưởng lên nhà nước.

Hơn thế, loại hình xã hội dân sự mà đã xuất hiện trong chế độ cộng sản có rất ít quan hệ với xã hội dân sự mới được hình thành dưới điều kiện của chủ nghĩa tư bản và dân chủ. Một số yếu tố văn hoá và lịch sử tương tự vốn ảnh hưởng lên cấu trúc xã hội dân sự mới nổi lên của Liên bang Xô Viết tiếp tục là điều kiện cho sự hình thành của xã hội Nga; tuy nhiên, một xã hội dân sự mới phải được sắp xếp lại theo một tập hợp mới gồm các quyền tư hữu và các mối quan hệ xã hội được xây dựng trong chủ nghĩa tư bản . Toàn bộ các tầng lớp xã hội mới (chủ ngân hàng, doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp nhỏ, người làm dịch vụ) đã xuất hiện, trong khi các nhóm xã hội cũ (công nhân, giám đốc doanh nghiệp, quan chức chính phủ) phải phải điều chỉnh cho phù hợp với các điều kiện kinh tế mới. Cho tới khi thị trường cơ bản và thể chế thị trường được bén rễ và một phần quan trọng của tài sản được tư nhân hoá, thì các tổ chức xã hội dân sự và kinh tế độc lập thực sự mới thực sự tồn tại. Thay vào đó, hầu bao của các nhóm lợi ích kinh tế xã hội cùng tồn tại trong một hệ thống phân tầng xã hội đang tan rã được tạo ra bởi hệ thống Xô Viết. Trong thời gian ngắn, các đơn vị xã hội cũ đã có các lợi ích được xác định tốt hơn và các nguồn lớn hơn để bảo vệ những lợi ích so với  các tầng lớp dựa trên thị trường và các nhóm xã hội đang xuất hiện.

Tuy nhiên, các quyết định về thể chế được đưa ra ngay sau khi sụp đổ của chế độ Xô Viết cũng ảnh hưởng đến sự xuất hiện của xã hội kinh tế và dân sự. Quan trọng nhất, sự thiếu vắng của một hệ thống đa nguyên của các trung gian lợi ích đã hạn chế sự phát triển của các tổ chức dân sự và các ảnh hưởng của chúng đến kết quả chính trị. Lợi ích của các nhóm có cơ sở trong đại chúng (chẳng hạn, các tổ chức người tiêu dùng, các nhóm của phụ nữ) và các cá nhân là được đại diện tốt nhất trong hệ thống bầu cử, nghị viện . Tuy nhiên, như đã lưu ý, thể chế đa nguyên đại diện cho lợi ích và tổ chức sự đại diện đã không được củng cố trong hai năm đầu tiên của chính thể hậu cộng sản ở Nga. Không có bầu cử, tiếng nói của các cá nhân và các nhóm quần chúng không thể cạnh tranh với các hiệp hội đại diện cho các lợi ích ngành của các chủ thể kinh tế quyền lực.

Hệ thống trung gian về lợi ích của các nghiệp đoàn đã ngăn các nhóm lợi ích kinh tế mới khỏi theo đuổi chương trình nghị sự của mình ở nhà nước. Các đại biểu quốc hội được bầu vào năm 1990, trước khi đảng chính trị tồn tại, trước khi Liên Xô sụp đổ và cũng như trước khi cải cách kinh tế bắt đầu. Do đó, các đại biểu này không đại diện cho cử tri (như được thể hiện rõ ràng trong cuộc trưng cầu dân ý vào tháng 4, 1993), hay cho các nhóm kinh tế và xã hội mới xuất hiện trong thời kỳ hậu cộng sản ở Nga (các hiệp hội kinh doanh, công đoàn độc lập mới, liên minh của những người điều hành các công ty tư nhân) . Những người vận động hành lang của những người điều hành này có nhiều liên minh trong Quốc hội, trong khi các doanh nghiệp không có một ai. Dần dần, các nhà kinh doanh, chủ ngân hàng Nga đã lôi kéo được các liên minh mới trong nhánh hành pháp như là Ủy ban sở hữu nhà nước do Anatoly Chubais lãnh đạo. Tuy nhiên, mạng lưới rộng lớn của các bộ, các ban chấp hành, các uỷ ban chỉ huy chính sách kinh tế trong kỷ nguyên Xô Viết vẫn bị chi phối bởi các nhóm lợi ích kinh tế cũ trong suốt hai năm đầu của cải cách kinh tế.

Cuối cùng, hậu quả tồi tệ của cải cách kinh tế triệt để đã tác động tồi lệ nhất lên chính tầng lớp xã hội mà trước đó đã đi đầu trong phong trào chống cộng sản – học giả, kỹ sư, bác sĩ, công nhân có giáo dục. Mặ dù những nỗ lực của Đảng nước Nga Dân chủ để thay đổi những người ủng hộ mình từ những người phản đối chủ nghĩa cộng sản sang những người ủng hộ cho chủ nghĩa tư bản, thì các lợi ích về mặt cá nhân thu được từ cải cách kinh tế ban đầu là quá nhỏ bé đến nỗi bộ phận này của xã hội sớm trở nên phi chính trị ở thời điểm mà những kẻ cộng sản ngoan cố, các nhóm ái quốc, và những người bị tước quyền bầu cử (gồm nhiều người ủng hộ cấp tiến trước đó cho phong trào dân chủ) trở nên ngày càng được huy động. Tuy nhiên, giống như thời kỳ 1990 – 91 đối với các nhà dân chủ, phương thức hành động của những nhóm này là biểu tình chống lại hệ thống, chứ không tham gia. Như đã chứng minh rõ ràng nhất ở mùa xuân và thu năm 1993, các nhóm này nhắm tới lật đổ chế độ Yeltsin, song không ảnh hưởng đến nó, và do đó nó không đóng vai trò xây dựng trong sự phát triển xã hội dân sự.

Cơ hội thứ hai (A Second Chance)

Thất bại trong việc kiến tạo ra một thể chế dân chủ mới sau tháng 8, 1991, cuối cùng đã dẫn đến thảm kịch vào tháng 10, 1993, khi lần đầu tiên từ năm 1917, người Nga đánh người Nga trên phố Moscow. Tuy nhiên, sự kiện tháng 10 đã mở ra cánh cử cơ hội thứ hai cho sự củng cố dân chủ. Trong sắc lệnh giải tán Quốc hội của mình, Yeltsin đã kêu gọi cuộc bầu cử ngay lập tức cho một quốc hội mới và cuộc trưng cầu dân ý để thông qua hiến pháp mới. Luật mới này được phê chuẩn trong cuộc bỏ phiếu vào tháng 12, 1993. Sau nhiều năm ở trong tình trạng nhập nhằng, Nga đã có một bộ nguyên tắc mới, chính thức cho việc tổ chức chính trị mà được chấp nhận bởi cả phần lớn dân số lẫn tất cả các nhân tố chính trị chiến lược. Trong khi đó CPRF thúc giục những người ủng hộ mình bỏ phiếu chống lại hiến pháp mới, ngay cả khi họ thừa nhận sự thay đổi sau cuộc bỏ phiếu .

Hiến pháp này cố gắng giải quyết hai điều mơ hồ về thể chế mà gây ra tai hại cho nhà nước Nga trong hai năm đầu tồn tại của nó. Liên quan đến cấu trúc liên bang Nga, nó quy định rằng tất cả các bộ phận cấu thành được hưởng các quyền bình đẳng so với trung tâm. Các quan điểm mà lưu hành  trước đó về hệ thống liên bang không cân xứng là không xuất hiện trong hiến pháp mới. Có rất nhiều quyền của các bang (các quyền của các vùng, các nước cộng hòa) vẫn không được quy định trong luật mới, nhưng các nguyên tắc chung liên quan đến sự bình đẳng giữa các chủ thể được nêu ra rõ ràng lần đầu tiên từ khi nước Nga độc lập. Một sự thiếu vắng quan trọng trong hiến pháp là sự đề cập đến cơ chế ly khai.

Sự rõ ràng này của hiến pháp mới liên quan đến các mối quan hệ liên bang giúp giải quyết địa vị về mặt lãnh thổ của các nước cộng hoà độc lập mới của Nga và các khu vực có chủ quyền. Bằng việc tuyên bố tất cả các nước cộng hoà, khu vực là các chủ thể có địa vị tương đương thuộc Liên bang Nga mà không có lựa chọn để ly khai, hiến pháp mới đã nêu ra một giải pháp hợp pháp cho các xung đột nội bộ mà đã gây phiền toái cho Nga trong suốt những năm 1992, 1993. Trong khi đàm phán song phương giữa Moscow và các nước cộng hoà vẫn tiếp tục cho đến năm 1994, chỉ có duy nhất một nước cộng hoà – Chechnya – không thừa nhận cơ sở hiến pháp mới cho khuôn khổ liên bang của Nga. Do đó, vào năm 1994, sự độc lập của Chechnya trở thành ngoại lệ chứ không phải quy tắc, cung cấp cho phía nắm quyền trong chính phủ của Yeltsin lý do để tấn công quân sự vào tháng 12 năm 1994.

Nghịch lý thay, cuộc chiến tranh tàn bạo ở Chechnya minh chứng cho cả sự thất bại lẫn thành công của việc củng cố chế độ  liên bang ở Nga. Cuộc chiến là hệ quả bị kịch của lời kêu gọi các nước cộng hoà và khu vực hãy giành lấy nhiều chủ quyền nhất như có thể của Yeltsin năm 1990. Yeltsin và các cố vấn của mình đã ngầm ủng hộ Chechen giành độc lập trước khi Liên Xô sụp đổ. Chỉ khi sự sụp đổ đang đến gần của nhà nước Nga vào tháng 10 năm 1993, khiến một Yeltsin được trao quyền hợp pháp mới cảm thấy bắt buộc ngăn chặn yêu sách độc lập của Chechnya. Nếu Yeltsin sử dụng một chiến lược khác liên quan đến vấn đề chủ quyền ở giai đoạn đầu chuyển đổi của Nga, thì có lẽ thảm hoạ Chechen có thể tránh được. Chớ trêu, khủng khoảng Chechen cũng là biểu hiện của sự củng cố liên bang thành công đối với phần còn lại của Nga. Năm 1992, và 1993, nhiều người dự đoán sự sụp đổ của nhà nước Nga, nhưng Chechnya vẫn là vấn đề lãnh thổ nổi bật cuối cùng ở Nga. Từ tháng 12, năm 1993, khung hướng của phần còn lại của nước Nga hướng tới một liên bang củng cố hơn .

Liên quan đến mối quan hệ giữa lập pháp – hành pháp, hiến pháp mới của Nga một cơ sở pháp lý cho một hệ thống tổng thống rất mạnh, trong khi cũng thay thế hệ thống của Xô Viết với một quốc hội hai viện, được gọi là Quốc hội Liên bang. Thượng viện, Hội đồng Liên bang bao gồm 2 đại biểu đến từ mỗi đơn vị liên bang; Hạ viện, Duma quốc gia, bao gồm 450 đại biểu được bầu cử phổ thông trong hệ thống hỗn hợp. So với các hiến pháp Phương Tây, luật cơ bản mới của Nga trao cho nhánh hành pháp quyền lực vô độ. Tổng thống bổ nhiệm thủ tướng và Duma xác nhận sự lựa chọn này. Nếu Duma từ chối ứng viên của tổng thống 3 lần, thì tổng thống có quyền giải tán Duma và kêu gọi một cuộc bầu cử mới. Một phương thức tương tự được sử dụng cho việc bỏ phiếu không tín nhiệm của quốc hội. Hai cuộc bỏ phiếu không tín nhiệm liên tiếp bởi Duma bắt buộc tổng thống hoặc chỉ định một thủ tướng mới hoặc giải tán Duma. Thêm vào đó, hiến pháp trao cho tổng thống quyền lập pháp bằng sắc lệnh.

Mặc dù sự mất cân bằng này, việc áp dụng một hiến pháp mới cũng đã thúc đẩy tiến trình củng cố dân chủ. Bằng việc nêu ra các nguyên tắc của trò chơi chính trị, hiến pháp đã tạo điều kiện, qui định, tiêu chuẩn hoá mối quan hệ giữa tổng thống, chính phủ và cơ quan lập pháp. Quan trọng là, khủng hoảng hơn nữa về hiến pháp đã không xảy ra liên quan đến mối quan hệ giữa hành pháp – lập pháp. Mối quan hệ giữa Duma và tổng thống đã vượt qua được những cuộc bỏ phiếu không tín nhiệm trong mùa hè 1995, một cuộc bầu cử mới cho nghị viện vào tháng 12, năm 1995, và tổng thống mùa hè năm 1996 và sự chấp thuận một thủ tướng bởi cơ quan lập pháp cho lần đầu tiên kể vào tháng 8 năm 1996, khi mà Yeltsin chỉ định và Duma chấp thuận Viktor Chernomyrdin đứng đầu chính phủ Nga.

Nếu nhà nước Nga đạt được một sự cụ thể về mặt thể chế lớn hơn liên quan đến quyền hành pháp và lập pháp sau năm 1993, thì quyền lực tư pháp vẫn còn mơ hồ và yếu kém. Tòa án hiến pháp đầu tiên của Nga từ bỏ quyền lực của mình như là trọng tài giữa tổng thống và quốc hội vào năm 1993, khi mà người đứng đầu tòa án, Valery Zorkin, dứt khoát đứng về phía những người bảo vệ Nhà Trắng trong cuộc khủng hoảng tháng 10, năm 1993. Tòa án ngừng hoạt động trong một năm và triệu tập lại chỉ sau khi Yeltsin mở rộng số lượng thẩm phán để giảm bớt tiếng nói của đối thủ của ông. Từ khi triệu tập lại, Tòa án không có nhiều quyết định quan trọng.

Ngoài ra, quá trình hướng tới việc xây dựng một nhà nước pháp quyền phần lớn bị hạn chế. Hệ thống toà án đã không được cải tiến để giải quyết các thách thức mới của nền kinh tế thị trường. Việc thể chế hoá hệ thống pháp luật để bảo vệ các quyền tư hữu, quản lý các thủ tục phá sản và tăng cường các khế ước, và đảm bảo sự cạnh tranh mới chỉ bắt đầu. Trong bối cảnh pháp lý đoàn thể, luật về tố cáo còn yếu, không được củng cố, các thủ tục ngân sách còn chưa được lập thành điều lệ, các thủ tục cổ phiếu và bỏ phiếu tín nhiệm còn mơ hồ, các thể chế quản lý thanh toán cổ tức không tồn tại. Do đó, cổ đông có ít cơ hội tiếp cận với  thông tin về doanh nghiệm mà họ đầu tư. Pháp quyền liên quan đến tội phạm và công dân vẫn còn yếu. Sự kết hợp giữa một nhà nước yếu với một hệ thống tư pháp không đủ năng lực đã tạo ra tình trạng hỗn loạn ở Nga, một hoàn cảnh xa lại và gây kinh sợ cho những người dân quen với một nhà nước độc tài mạnh mẽ. Sự ca thán phổ biến về luật pháp và trật tự, một lần nữa, đe doạ làm xói mòn những sự tự do cá nhân và các quyền con người.

Các cuộc bầu cử như là những sự kiện bình thường

Ngoài kêu gọi một cuộc bỏ phiếu cho hiến pháp mới, sắc lệnh của Yeltsin vào tháng 9, 1993, cũng kêu gọi cho một cuộc bầu cử quốc hội mới, cuộc bầu cử quốc gia đầu tiên kể từ khi Liên bang Xô Viết sụp đổ. Trong khi nhiều người cho rằng Yeltsin thúc đẩy một cách giả tạo số lượng cử tri đi bầu để hợp pháp hóa cuộc trưng cầu hiến pháp, thì một số người đã tranh luận về tính công bằng của cuộc bầu cử nghị viện năm 1993 (xem bảng 1). Việc thể hiện mạnh mẽ của các đảng chống lại Yeltsin giúp chống lại các tuyên bố về sự gian lận của tổng thống. Hai năm sau, chính nghị viện tạm thời này (được Yeltsin phác thảo bằng sắc lệnh năm 1993) đã bị thay thế bởi một nhóm mới các nhà lập pháp, được lựa chọn theo kế hoạch, theo luật pháp, và trong một tiến trình tự do và công bằng. Trong cuộc bầu cử này, sự tham gia đã tăng lên 65%, cao hơn 15 lần so với năm 1993.

Đáng kể nhất, Nga đã tổ chức cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 6 và tháng 7, năm 1996, cuộc bầu cử trực tiếp cho vị trí đừng đầu nhà nước lần đầu tiên trong suốt hàng nghìn năm lịch sử của đất nước này. Mặc dù các doanh nhân Nga và chính một số người viện trợ cho Yeltsin kêu gọi hoãn cuộc bầu cử nhưng cuộc bầu cử vẫn được diễn ra theo kế hoạch, theo pháp luật và được xem là tự do và công bằng . Số lượng tham gia cuộc bầu cử này rất lớn, đạt tới 75% vòng đầu tiên và 68% ở vòng thứ hai.

Cuộc bầu cử không tạo ra dân chủ; tuy nhiên,  kết quả của 3 cuộc bầu cử quốc gia lớn này trong vòng 4 năm đã báo hiệu bước ngoặt quan trọng trong gia đoạn chuyển đổi tới dân chủ đầy khó khăn của Nga. Thứ nhất, các nhân tố chiến lược đã cam kết với một tập hợp các quy tắc về cạnh tranh chính trị trước khi họ biết kết quả mà các nguyên tắc này có thể tạo ra . Các hành động của Yeltsin đặc biệt gây ngạc nhiên, khi phần lớn các nhà quan sát cho rằng ông có cơ hội để duy trì quyền lực bởi các phương tiện khác hơn là để cho sự nghiệp chính trị của mình phụ thuộc vào vào cho sự thất thường của người dân.

Thứ hai, tất cả các nhân tố chiến lược đều tham gia. Trong khi một số ứng viên và đảng phái công khai tán thành các nguyên tắc phản dân chủ, sự tham gia của họ vào các cuộc bầu cử này tạo ra một sự ảnh hưởng làm ôn hoà nền chính trị Nga. Những người dân tộc cực đoan và những người cộng sản cực đoan không thể giành được sự đại diện trong cuộc bầu cử quốc hội vào năm 1995. Sự định kì của các cuộc bầu cử cũng đã bắt đầu phá huỷ sự nghiệp của nhà dân tộc chủ nghĩa Vladimir Zhirinovky; ông đã mất đi một nửa số người ủng hộ mình từ năm 1993 đến 1995, sau đó mất một nửa số còn lại trong cuộc bầu cử tháng 6, 1996. CPRF, sau thất bại của nó trong cuộc bầu cử tổng thống, cũng bắt đầu dịch chuyển vào trung tâm và giữ khoảng cách với những người cực đoan.

Thứ ba và cuối cùng, tất cả những người chơi chính đã chấp nhận kết quả của các cuộc bầu cử này. Trong khi nhiều người dự đoán bạo loạn và biểu tình đường phố sau khi sự kết quả bầu cử thất bại của những người cộng sản vào năm 1996, Gennady Zyuganov và những đồng chí cộng sản của mình đã chấp nhận sự thất bại, tham gia lễ nhậm chức của Yeltsin, và sau đó tán thành ứng viên thủ tướng của Yeltsin, Viktor Chernomyrdin với một đa số áp đảo. Zyuganov sau đó bắt đầu lên kế hoạch cho cuộc bầu cử tiếp theo, tạo ra một ấn tượng rằng dân chủ đã trở thành “trò chơi duy nhất ở nơi này” . Đổi lại, Yeltsin phát biểu sau chiến thắng bầu cử của ông về nhu cầu cần hoà giải giữa các lực lượng chính trị ở Nga và gợi ý rằng những người cộng sản có thể được đề nghị một vị trí trong chính phủ của ông.

Đảng phái chính trị

Trong khi các cuộc bầu cử ở Nga đã cho thấy những tín hiệu tích cực về sự củng cố từ năm 1993, di sản của sự chuyển đổi thất bại lần đầu tiên của Nga vẫn còn, liên quan đến sự phát triển của hệ thống đảng phái ở Nga. Sắc lệnh của tổng thống kiểm soát cuộc bầu cử quốc hội năm 1993 (được tái khẳng định như là một luật với chỉ một thay đổi nhỏ trước cuộc bầu cử năm 1995) là kết quả thoả hiệp giữa lực lượng chính trị vốn quan tâm đến việc kích thích sự phát triển đảng phái và mong muốn của tổng thống nhằm hạn chế vai trò của đảng phái . Ở Duma, 50% số ghế hay 225 ghế được phân bổ theo đại diện theo tỷ lệ (PR), được chia giữa các đảng giành được hơn 5% số phiếu bầu phổ thông. Một nửa còn lại của số ghế trong quốc hội được lấp đầy bởi các đại diện từ 225 quận (mỗi quộc một người). Trong Hội đồng Liên bang, hai thượng nghị sĩ được bầu trong năm 1993 từ mỗi 88 nước cộng hoà và khu vực của Nga (ngoại trừ Chechnya). Tuy nhiên, luật quy định sự hình thành Hội đồng đã được thay đổi rất nhiều trong khoảng thời gian giữa cuộc bầu cử năm 1993 và 1995. Theo luật mới, giờ đây thượng viện bao gồm người đứng đầu nhánh lập pháp và hành pháp địa phương, những người được bầu vào vị trí địa phương của họ nhưng không được bầu  trực tiếp vào Hội đồng.

Theo kế hoạch,  bộ phận PR (đại diện theo tỉ lệ) của hệ thống bầu cử hỗn hợp của Nga đã kích thích sự hình thành các đảng mới trong cuộc bầu cử quốc hội năm 1993 và một lần nữa vào năm 1995 .Lần đầu tiên trong quá trình chuyển đổi của Nga, các củ tri đã lựa chọn các đảng phái và không chỉ các cá nhân trong các cuộc bầu cử năm 1993 và 1995. Hơn nữa, tầm quan trọng ngày càng tăng của sự thống nhất đảng phái cho việc giành được ghế trong cuộc bầu cử quốc hội năm 1995 cho thấy vai trò của các đảng phái trong việc cung cấp thông tin ứng cử viên và cấu trúc lựa chọn của cử tri đang tăng chứ không phải giảm đi . Trong Duma (hạ viện Nga) đầu tiên và thứ hai thời hậu cộng sản, các đảng và các phe phái của họ cũng đóng vai trò quyết định, làm cho Duma hiệu quả hơn đáng kể so với Đại hội đại biểu nhân dân .

Tuy nhiên, hệ thống đảng phái ở Nga vẫn chia rẽ sâu sắc, và không có gốc rễ sâu trong xã hội và nhà nước. Lý do chính là Nga có quá nhiều đảng . Năm 1993, 13 đảng cạnh tranh các ghế trong danh sách đại diện theo tỉ lệ PR, năm 1995, có 43 đảng. Cuộc bầu cử quốc hội năm 1995 có thể tạo ra sự củng cố, khi chỉ có 4 trong 43 đảng vượt qua ngưỡng 5% . Tuy nhiên, tất cả các đảng có chân trong quốc hội này không có tương lai chắc chắn. CPRF giống như một đảng quốc gia có cơ sở vững chắc mà sẽ sống sót lâu hơn so với các nhà lãnh đạo hiện thời của nó. Tuy nhiên sự thất bại  của Zyugnov trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1996 đã gây ra sự chia rẽ giữ các những người theo chủ nghĩa dân tộc thực dụng và những người cộng sản hiếu chiến  mà có thể phá vỡ cấu trúc đảng tập trung và có nguyê tắc này. Hơn nữa, bởi vì độ tuổi trung bình của các thành viên CPRF là 59 trong năm 1995 trong khi các cử tri bỏ phiếu cho CPRF năm 1996 đã quá tuổi nghỉ hưu, CPRF và những tổ chức kế tục nó phải phát triển chiến lược để thu hút các đảng viên mới và một nền tảng cử tri đa dạng hơn để có thể tồn tại.

Các đảng khác thậm chí còn yếu hơn. LDP của Zhirinovsky đã tạo ra một mạng lưới sâu rộng gồm các quan chức khu vực và các nhà tổ chức địa phương. Tuy nhiên, vẫn không rõ ràng liệu tổ chức này là một đảng chính trị hay một giáo phái cá nhân, vì nó có thể sụp đổ ngay lập tức khi không còn Zhirinovsky. Nhà của chúng ta là Nga, một nhóm chính trị được thành lập bởi thủ tướng Chernomyrdin, được tài trợ một nguồn tài chính dồi dào, sự ủng hộ của chính phủ, và các tổ chức bởi địa phương ôn hòa, nhưng có thể dễ dàng theo sau bước đi của “các đảng của quyền lực” trước đó ở Nga và tan rã. Yabloko của Grigory  Yavlinsky, một đảng cải cách không có mối liên kết với chính phủ mà giành được ghế thông qua hệ thống tỷ lệ cả trong năm 1993 và 1995, hầu như gần giống nhất với một đảng nguyên thuỷ, bao gồm một phe cánh ở quốc hội, các tổ chức cơ sở địa phương, và các phương thức dân chủ nội bộ. Tuy nhiên phe cánh nhỏ của Yabloko trong quốc hội và hầu như không thâm nhập vào các cơ quan chính quyền bên ngoài Moscow sẽ chỉ có một vai trò nhỏ trong một tương lai gần.

Sự yếu kém của hệ thống đảng phái ở Nga là đặc biệt rõ ràng bên ngoài Moscow. Trong khi phần lớn các đảng đều có một số cơ sở địa phương thì chỉ CPRF và LDP có cơ sở khu vực khắp cả nước, và trong nghị viện khu vực, và chỉ có CPRF có đại diện trên toàn quốc. Phần lớn các cơ quan lập pháp khu vực này bị chi phối bởi các đảng của quyền lực địa phương mà không có sự liên kết về ý thức hệ và mối quan hệ chặt chẽ với cơ quan hành pháp địa phương . Tương tự, chỉ một vài thống đốc các vùng và chủ tịch trong các nước cộng hòa tự trị là có quan hệ đảng phái. Trong chuỗi các cuộc bầu cử những người hành pháp khu vực vào mùa thu năm 1996, trong đó 52 nhà lãnh đạo được chọn, các đảng phái chính trị chỉ đóng vai trò bên lề trong việc lựa chọn và công nhận các ứng viên .

Quá trình chuyển đổi kinh tế xã hội chưa hoàn thiện của Nga làm chậm lại sự hình thành các đảng phái chính trị dựa trên lợi ích. Nếu những sự phân chia kinh tế xã hội mới vẫn đang xuất hiện trong bối cảnh hệ thống thị trường mới của Nga, thì các đảng mà tìm cách đại diện cho các lợi ích xã hội cũng sẽ xuất hiện, và còn chưa ổn định. Thêm vào đó, phương thức chuyển đổi hỗn loạn của Nga đã phân chia xã hội thành những người ủng hộ chương trình cải cách của Yeltsin và những người phản đối nó, để lại rất ít không gian ý thức hệ cho các đảng vốn dựa trên những lợi ích nhỏ bé hơn . Như đã chứng minh ở lúc đầu trong cuộc bầu cử quốc hội năm 1995, và đáng kể hơn trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1996, có rất ít chỗ cho các ứng viên của đảng thứ ba trong nền chính trị bầu cử phân cực ở Nga.

Những trở ngại về mặt cấu trúc này đối với sự phát triển của đảng phái đã được tăng cường bởi các nhân tố thể chế và các quyết định chiến lược về thời gian và kết quả của cuộc bầu cử. Như đã nói, thành phần đại diện theo tỷ lệ PR trong luật bầu cử quốc hội Nga đã kích thích sự phát triển của đảng phái chính trị, nhưng những ảnh hưởng tích cực này bị hạn chế một phần bởi các nghế ủy nhiệm trong Duma và sự chấm dứt việc bầu cử trực tiếp đối với thượng viện. Hệ thống hỗn hợp này của Nga đã không tạo ra hệ thống hai đảng hay đa đảng mà thay vào đó là một hệ thống lắp nghép và thể chế hoá yếu kém. Thậm chí hệ thống siêu tổng thống của Nga gây tổn hại lớn hơn đối với sự phát triển của đảng. Trong cả hai cuộc bầu cử nghị viện năm 1993 và 1995, quả thực Yeltsin đã có những khích lệ về mặt chính trị và thể chế để khuyến khích sự tan rã giữa những người ủng hộ đảng của ông, khi các quyết định này đã làm suy yếu tính hiệu quả của Duma; cản trở sự phát triển các đảng phái chính trị tự do mạnh mà có thể ngăn trở hay hạn chế quyền lực cá nhân Yeltsin; đã làm mất uy tín các ứng cử viên tổng thống tiềm năng, bao gồm Viktor Chernomyrdin và Grigory Yavlinskky; và giúp cho thấy Yeltsin như là người duy nhất có khả năng thống nhất các lực lượng cải cách và đánh bại những người cộng sản .

Nói chung, hệ thống tổng thống Nga, giống như tất cả các hệ thống tổng thống, đã phân định vai trò các đảng phái đối với chính sách. Việc trao cho Duma những quyền lực giới hạn, các nhóm lợi ích phải thương thảo trực tiếp với nhánh hành pháp để đạt được những kết quả về chính sách. Với sự hình thành phi đảng phái của cả chính quyền tổng thống và chính phủ, các đảng phái chính trị Nga bị đẩy sang một bên trong quá trình trung gian hoá lợi ích. Vì các một thủ tục mới khiến cho việc sửa đổi hiến pháp là thực sự rất khó, hệ thống siêu tổng thống Nga vẫn sẽ tiếp tục tạo ra những rào cản cho sự phát triển đảng phái bất kể ai là ứng cử viên tổng thống tiếp theo .

Một mô hình tương tự sảy ra ở cấp độ khu vực, nơi mà cơ quan hành pháp mạnh ít khuyến khích sự phát triển hoặc cho phép phát triển các đảng phái chính trị. Sau khi giải tán hệ thống Xô Viết trên khắp nước Nga vào mùa thu năm 1993, các chính quyền địa phương đã tạo ra cơ quan lập pháp mới, gọi là Duma khu vực và Duma thành phố. Số lượng rất ít cử tri đi bỏ phiếu bầu người đại diện cho các cơ quan mới này, cùng với sự thiếu vắng hiến pháp ở cấp độ khu vực hay các hiến chương thành phố, đã làm suy yếu quyền lực và tính chính danh của cơ quan lập pháp mới này. Thay vào đó, người đứng đầu chính quyền ở cấp độ khu vực và thành phố hầu như cai trị bằng sắc lệnh. Sau khi đạt được tính hợp pháp thông qua các cuộc bầu cử vào mùa thu năm 1996, những người đứng đầu cơ quan hành pháp này thậm chí có ít sự khuyến khích hơn đối với sự phát triển đảng phái so với trước đó.

Nhìn chung, số lượng giới hạn của các quan chức được bầu và các cuộc bầu cử đối với các quan chức này không thường đã không cung cấp nhiều cơ hội cho các đảng trong các cuộc bầu cử . Tóm lại, một hệ thống đảng mới đã nổi lên ở Nga, chủ yếu được thức đẩy bởi hệ thống đại diện theo tỉ lệ PR của hệ thống bầu cử nghị viện, nhưng hệ thống này vẫn còn rời rạc, tập trung ở Moscow, và do đó là còn đứng ngoài các tổ chức và các đại diện lợi ích trong hệ thống chính trị Nga.

Cải cách kinh tế

Ngoài việc tạo ra một sự khởi đầu chính trị mới và một bối cảnh thể chế khác đôi với sự củng cố dân chủ, sự chuyển đổi lần thứ hai của Nga đã tạo ra một khuôn khổ chính trị và thể chế mới cho sự cải cách kinh tế xa hơn nữa. Liên quan đến sự hình thành và thực hiện các chính sách kinh tế, hiến pháp mới trao cho tổng thống quyền để thiết lập chính phủ, chỉ định người đứng đầu ngân hàng trung ương, đưa ra các sắc lệnh về ngân sách và lập pháp khi cần thiết. Dưới chính quyền Yeltsin – Chernomyrdin, những quyền lực này đã được sử dụng để thúc đẩy quá trình chuyển đổi kinh tế Nga. Tư nhân hóa được mở tràn lan trong suất năm 1994, 1995 với hơn 100,000 các doanh nghiệp được tư nhân hóa vào mùa hè năm 1994, và hơn một nửa lực lượng lao động sử dụng trong khu vực tư nhân đến mùa hè năm 1995. Sự ổn định, một mục tiêu mà lảng tránh nước Nga trong suốt hai năm đầu cải cách kinh tế, đã trở thành một mục tiêu có thể đạt được từ tháng 12 năm 1993. Việc phác hoạ rõ ràng các quy tắc của trò chơi chính trị đã khuyến khích Chernomyrdin mạnh dạn thắt chặt cả chính sách tiền tệ và tài chính, kết quả là tỷ lệ lạm phát hàng tháng là một con số và thâm hụt ngân sách dưới 10% GNP trong suốt năm 1994 và 1995. Liên quan đến sự tự do hóa, chính phủ đã chống lại các áp lực của nghị viện thực hiện những sự kiểm soát giá cả mới, và thay vì duy trì các nguyên lý của chế độ tự do của Gaidar liên quan giá cả, trao đổi tiền tệ, kiểm soát xuất nhập khẩu. Sự tự do hoá hơn nữa vẫn cần thiết, đặc biệt liên quan đến dầu khí và gas, trong khi một mớ hỗn độn cá nguyên tắc, qui định, giấy phép của chính phủ tiếp tục kìm nén doanh nghiệp nhỏ và duy trì sự tham nhũng của chính phủ. Về tổng thẻ, mặc dù, nước Nga đã có một bước tiến quan trọng trong việc tạo ra một trật tự tư bản mới. Câu hỏi không còn là liệu có phát triển kinh tế thị trường hay không mà là loại kinh tế thị trường nào cần được tạo ra.

Sự củng cố của một nền kinh tế thị trường dựa trên quyền sở hữu tư nhân, một lẫn nữa, cho phép sự xuất hiện của một xã hội kinh tế độc lập với những kết quả thực tế cho sự củng cố dân chủ . Ba đặc trưng của chủ nghĩa tư bản mới nổi lên của Nga đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền dân chủ Nga. Thứ nhất, tư bản được tập trung theo từng ngành. Hoạt động kinh tế năng động được tập trung ở thương mại, dịch vụ, ngân hàng, và xuất khẩu nguyên liệu thô, đặc biệt là dầu khí. Việc sản xuất hàng hóa chế tạo của bất cứ ngành nào sụt giảm mạnh trong năm 1990, 1991, và giảm dần từ đó.  Sự phát triển doanh nghiệp nhỏ, sau sự bùng nổ của kỷ nguyên Gorbachev, đã giảm dần tới một phần trăm của GNP. Thứ hai, tư bản được tập trung theo địa lý, với ước tính 80% tài sản tư bản của Nga được tập trung ở Moscow. Thứ ba, tư bản gắn chặt với nhà nước. Trong suốt quá trình tư nhân hoá, các ngân hàng Nga vẫn phụ thuộc vào nhà nước về thông tin và tiền tệ để thu lợi. Mối quan hệ mật thiết giữa nhà nước và khu vực tư nhân thậm chí còn rõ ràng hơn trong các ngành xuất khẩu nguyên liệu thô, khi nhà nước giữ lại cổ phần lớn trong tất cả các ngành này, và phần lớn cổ phần ở các ngành khác. Đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên khi mà thủ tướng Nga đương thời từng là người đứng đầu và là cổ đông lớn trong công ty xuất khẩu dầu khí lớn nhất của Nga.

Một giai cấp tư bản tập trung và có quan hệ mật thiết (nếu không muốn nói là kí sinh) với nhà nước đã ảnh hưởng đến vai trò của xã hội kinh tế Nga đối với sự củng cố dân chủ. Kết nối và dung hoà lợi ích là nghiệp đoàn chứ không phải đa nguyên (đa dạng các tổ chức) và bị chi phối bởi các doanh nghiệp lớn, mà có thể đẩy các nhóm lợi ích khác ra ngoài bằng việc vận động hành lang nhà nước . Hồ sơ của một số tác nhân kinh tế đã thay đổi (như các chủ ngân hàng đã thay thế các giám đốc kinh doanh đến từ quân đội), nhưng các quy tắc của trò chơi đối với quan hệ giữa nhà nước và xã hội kinh tế vẫn còn tương tự với các quy tắc được thể chế hoá trong kỷ nguyên hậu Xô Viết . Quan trọng hơn, các nhà tư bản hàng đầu không có ích cho quá trình dân chủ hoá, vì sự rối loạn hiện trạng chỉ có hại cho lợi ích kinh tế của họ. Một lần nữa các nỗ lực của họ đề trì hoãn cuộc bầu cử nghị viện năm 1995 và cuộc bầu cử tổng tống năm 1996 thất bại, hầu như tất cả các tập đoàn tài chính lớn ủng hộ trước tiên cho khối của thủ tướng Chernomyrdin, Nhà của chúng ta là Nga, sau đó mới là Boris Yeltsin . Theo một số ước tính, những nhà tài chính này đã tiêu tốn khoảng 500 triệu đô la để đảm bảo người mình ủng hộ vẫn nắm giữ quyền lực trong điện Kremlin. Mối quan hệ này giữa tập đoàn kinh tế lớn với nhà nước Nga đã tạo ra tham nhũng rất lớn.

Các chủ ngân hàng, các nhà xuất khẩu dầu khí và các đồng minh của họ đã làm cho các tác nhân kinh tế khác không phát triển được cả về mặt tổ chức chính trị lẫn của cải. Các giám đốc của các doanh nghiệp nhà nước trước đây, từng là một tổ chức vận động hành lang tương đối thống nhất, hiện nay đã bị phân chia vào một số lĩnh vực và các tổ chức công nghiệp địa phương. Liên đoàn dân sự, khối cử tri đồng nhất chắc chắn nhất với tầng lớp kinh tế này, chỉ giành được 1.9% số phiếu phổ thông năm 1993, làm cho nhiều quản lý nhà máy thu hút trở lại “đảng quyền lực” như là một tổ chức chính trị duy nhất đáng để đầu tư vào. Nghịch lý là, các giám đốc doanh nghiệp ở hàng loạt các ngành công nghiệp từng có một sự hội tụ về lợi ích chính trị trong ngắn hạn với nguồn tiền cũ đến từ các nhà xuất khẩu tài nguyên thô lẫn nguồn tiền mới đến từ các nhà tài chính và ngân hàng của Nga. Một số doanh nghiệp thuộc phức hợp công nghiệp-quân sự đã thành lập liên minh với các đảng và tổ chức vận động hành lang đối lập như là CPRF, và Quốc hội của các cộng đồng Nga, đứng đầu bởi Yury Skokov, nhưng sự ảnh hưởng của phân khúc này đối với kinh tế xã hội Nga đã suy giảm liên tục từ năm 1992.

Các doanh nghiệp nhỏ và các công ty khởi nghiệp phải chịu sự tổn hại bởi loại hình tư bản chủ nghĩa mới nổi lên ở Nga. Thuế cao cắt cổ, lạm phát, Mafia và sự hợp nhất của các nhóm tài chính lớn để kiểm soát độc quyền một số thị trường đã tạo ra một môi trường không thân thiện đối với các chủ doanh nghiệp nhỏ. Hệ quả, nhóm  lợi ích kinh tế này – nền tảng cho nhiều nền dân chủ đã củng cố – là rất yếu, vô tổ chức và bị loại bỏ khỏi chính trị ở Nga.

Tầng lớp lao động cũng bị mất phương hướng và vô tổ chức trong giai đoạn giữa của sự chuyển đổi kinh tế. Công đoàn Xô Viết cũ, từng là công cụ kiểm soát của CPSU, rất chậm trong việc tổ chức lại để đáp ứng các thách thức mới của chủ nghĩa tư bản. Liên bang Công đoàn độc lập tự do (FNPR), một liên hiệp của các công đoàn ngành tuyên bố có trên 50 triệu thành viên, trong nhiều trường hợp vẫn đồng nhất và đại diện cho quyền lợi của giới giám đốc hơn là công nhân. Vì lợi ích giới quản lý và người lao động khác nhau, nên FNPR đã dần dần mất đi sự tín nhiệm của mình với cả hai nhóm này, và kết quả là ảnh hưởng chính trị của nó cũng mất đi. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1996, PNFR đã không ủng hộ một ứng cử viên nào. Tuy nhiên, các công đoàn thực sự độc lập vẫn chưa phát triển . Các cuộc đình công kéo dài, đặc biệt là ở khu vực than đá và Viễn Đông làm, dấy lên đồn đoán rằng lực lượng lao động Nga cuối cùng đã bắt đầu được tái điều động, nhưng sự thiếu một tổ chức ở cấp độ quốc gia cho thấy rằng các cuộc đình công này còn là các trường hợp biệt lập.

Sự tổ chức của các doanh nghiệp Xô Viết đã làm cho các công nhân phụ thuộc vào các ông chủ của mình để có được lương thực, y tế, nhà ở, và kì nghỉ hè. Sự chuyển đổi kinh tế không ổn định ở Nga chỉ làm gia tăng sự phụ thuộc này, để lại rất ít cơ hội sự phát triển của các công đoàn hậu cộng sản. Do đó, tầng lớp lao động không có tiếng nói thống nhất và có tổ chức trong nền chính trị Nga. Khoảng cách này, kết hợp với sự hiện diện của một tổ chức Đảng Cộng sản mạnh, đã làm cản trở sự phát triển của một đảng dân chủ xã hội thực sử ở Nga.  Tất cả các nhóm lợi ích kinh tế có cơ sở từ đại chung vẫn còn rất yếu.

Một sự cam kết đang suy giảm

Sự tham gia của các nhóm dân sự vào các hoạt động chính trị công khai có lẽ đạt tới đỉnh điểm vào đầu năm 1990, trong khi sự tổ chức các hoạt động chính trị của các nhóm dân sự tăng lên vào năm 1991 như là một phần của phong trào chống cộng sản trên toàn quốc . Kể từ đó, các nhóm dân sự độc lập đóng vai trò nhỏ bé trong việc tổ chức và thực hiện các chính sách của nhà nước, bởi vì một vài lý do. Thứ nhất, khả năng của các nhóm dân sự trong việc kết nối và vận động cho các lợi ích của họ thông qua nhà nước trong kỷ nguyên hậu cộng sản ở Nga đã bị cản trở bởi cũng các nhân tố đã cản trở sự phát triển của đảng phái – những thay đổi cấu trúc trong kinh tế và xã hội, trì hoãn sự phát triển của thiết chế dân chủ, đặc biệt là các thiết chế đại diện, và sức mạnh to lớn của quyền hành pháp. Thứ hai, cuộc cách mạng kinh tế của Nga đã có một ảnh hưởng tiêu cực to lớn đên xã hội dân sự đang lên trong kỉ nguyên Xô viết. Cũng giống với phong trào lao động, xã hội dựa trên nền kinh tế thị trường vẫn chưa đủ trở nên đủ củng cố để tác ra các tổ chức xã hội. Ngoài ra, các tổ chức quần chúng hậu cộng sản không có nguồn tài chính, khi “giai cấp trung lưu” – những người cung cấp tài chính cho hầu hết các nhóm xã hội dân sự ở Phương Tây – chưa xuất hiện ở Nga. Thứ ba, các nhóm dân sự chống lại cộng sản nổi tiếng, như Memorial (nhóm tổ chức có cơ sở toàn quốc ủng hộ cho việc kỷ niệm các nạn nhân của chủ nghĩa Stalin), đã mất vai trò quan trọng trong kỷ nguyên hậu cộng sản. Cuộc chiến tranh Chechen đã thúc đẩy trong một thời gian ngăn các lãnh đạo và các tổ chức nhân quyền, nhưng mức độ tham gia thấp của quần chúng đã cho thấy thực tế rằng xã hội Nga hậu cộng sản trong năm 1995 đã phát triển một loạt các quan tâm và lợi ích khác với các mối quan tâm và lợi ích của xã hội Nga năm 1991.

Sự phát triển của xã hội dân sự hậu cộng sản sống động đã bị cản trở hơn nữa bởi dạng củng cố của các thiết chế chính trị Nga. Việc ngăn chặn sự phát triển đảng phái từ năm 1991 đến 1993 nhằm làm cho các nhóm dân sự đứng ngoài chính trị. Nếu như hệ thống đảng phái không phát triển, thì khả năng của các tổ chức dân sự để ảnh hưởng đến nhà nước cũng bị suy yếu. Sau năm 1993, ở thời điểm mà các đảng bắt đầu đóng vai trò quan trọng hơn trong nền chính trị, thì sự tách rời giữa xã hội chính trị và xã hội dân sự là hầu như tuyệt đối. Các tổ chức dân sự không nhìn thấy lợi ích nào từ việc tham gia vào quá trình bầu cử, trong khi các đảng chính trị không nhận thấy lợi ích bầu cử từ việc cung cấp (tài chính) cho các nhóm dân sự nhỏ và không hiệu quả .

Với quyền hành pháp ngày càng tăng ở tất cả các cấp độ trong nhà nước Nga gây nên một ảnh hưởng tiêu cực cuối cùng đến mối quan hệ nhà nước-xã hội Nga. Các nhóm dân sự có cơ sở trong quần chúng thành công khi làm việc với quốc hội hơn là nhánh hành pháp trong chính phủ. Yeltsin và một số thống đốc, thị trưởng đã tạo ra các “hội đồng xã hội”, được cho là một cách để bù đắp cho các cơ quan đại diện yếu kém và là cầu nối giữa các nhóm dân sự Nga và cơ quan hành pháp hành pháp. Tuy nhiên, với một vài trường hợp ngoại lệ, các hội đồng tư vấn nguỵ trang, cho một sự chia rẽ ngày càng tăng giữa nhà nước-xã hội, trong khi đồng thời làm xói mòn tính hợp pháp của cơ quan lập pháp.

Sự chia rẽ đáng báo động của xã hội với nhà nước không có nghĩa là xã hội ở Nga hậu cộng sản đã kho héo hoàn toàn. Tất cả các nhóm dân sự vẫn tồn tại, số lượng của các tổ chức này vẫn tiếp tục tăng trong thời hậu cộng sản – một tình trạng mà tự nó là một sự tiến bộ mang tính cách mạng so với kỷ nguyên Xô Viết. Nguy hiểm là ở chỗ các nhóm và tổ chức dân sự, tuy hoạt động tích cực trong các lĩnh vực riêng của mình, thu hút được một số lượng rất nhỏ người dân, và chính các nhóm dân sự này ngày càng trở nên thờ ơ và không có mỗi liên hệ với toàn bộ nhà nước, thay vào đó chỉ tìm cách theo đuổi các chương trình nghị sự hạn hẹp chỉ trong lĩnh vực tư nhân .

Nhìn chung, nhu cầu công chúng đối với thể chế dân chủ ở Nga là rộng rãi nhưng còn yếu. Số cử tri đi bầu cử rất lớn trong các cuộc bầu cử năm 1995 và 1996 và chiến thắng trong cuộc bầu cử của Boris Yeltsin – ứng cử viên được xem đồng nhất rõ ràng với cải cách dân chủ – cho thấy các công dân Nga quan tâm đến dân chủ. Tương tự, các cuộc thăm dò ý kiến cho thấy rằng người Nga đề cao các quyền cá nhân, quyền sở hữu tư nhân và một nền báo chí độc lập . Tuy nhiên, các cuộc thăm dò cũng cho thấy sự cam kết đối với dân chủ như hiện đang được thực hành ở Nga đã suy giảm trong những năm gần đây, đồng thời số lượng ngày càng tăng các công dân Nga sẵn sàng từ bỏ các quyền dân chủ của mình cho một trật tự và an ninh tốt hơn. Ví dụ, năm 1993, 42% dân số Nga tin rằng dân chủ là loại hình chính phủ tốt nhất đối với Nga, trong khi 27% nghĩ rằng chủ nghĩa xã hội là tốt nhất, và 26% ủng hộ cho một cái gì đó khác hơn. Năm 1996, chỉ có 28% những người được hỏi tin rằng dân chủ là hệ thống chính phủ, tốt nhất và 27% vẫn ủng hộ cho chủ nghĩa xã hội, và 45% mong muốn một cái gì đó khác hơn . Những thái độ này đối với ý tưởng dân chủ, kết hợp sự thiếu các thể chế ở Nga để liên kết xã hội với nhà nước, cho thấy rằng rất ít công nhân Nga sẵn sàng chống lại nhà nước nếu nó bắt đầu chuyển sang các thực tiễn mang tính độc tài hơn.

Làm sống lại dân chủ

Cách mạng Nga xuất phát từ chế độ cộng sản đã không dẫn đến một quá trình chuyển đổi bằng phẳng đến dân chủ. Các yêu về chuyển đổi kinh tế xã hội đi cùng – điều kiện của tất cả mọi chuyển đổi từ chế độ cộng sản – đảm bảo rằng sự chuyển đổi của Nga sẽ trở nên phức tạp và dài hơn sự chuyển đổi đến dân chủ ở các nước tư bản. Điều kiện kiên quyết hơn nữa đối với sự chuyển đổi tới dân chủ của Nga – phá huỷ đế chế Xô Viết – càng làm cho quá trình củng cố nhà nước Nga trở nên phức tạp hơn. Thứ ba, phương thức chuyển đổi đối đầu của Nga gia tăng sự mập mờ về thể chế chính trị hậu cộng sản của Nga, vốn một lần nữa cản trở sự xuất hiện của các thiết chế quan trọng đối với một thể chế dân chủ, bao gồm trước hết và quan trọng nhất là hệ thống đa đảng hoạt động hiệu quả. Sự thất bại của Nga trong việc thể chế hoá dân chủ trong hai năm đầu sau khi Xô Viết sụp đổ cũng đã làm suy giảm tính hợp pháp của nhà nước Nga đối với nhân dân. Chỉ có thời gian mới cho chúng ta thấy liệu sự phá huỷ này đối với các lý tưởng dân chủ ở Nga có khắc phục được không.

Trong khi sự chuyển đổi của Nga từ chế độ cộng sản Xô viết không theo lộ trình điển hình nào, con đường ghập nghềnh của nó chỉ có thể kết thúc trong một nền dân chủ đã củng cố. Năm 1991, Nga kế thừa một vài trở ngại đối với quá trình củng cố dân chủ từ kỷ nguyên Xô Viết, bao gồm hàng loạt nguyên tắc hiến pháp mập mờ, một nhà nước yếu kém, một nền kinh tế đang suy sụp, thiếu đảng phái chính trị và hầu như không có luật pháp. Với việc trì hoãn bầu cử và không phê chuẩn một hiến pháp mới, Yeltsin đã làm chậm hơn nữa sự phát triển các thiết chế chính trị mới ở Nga. Hậu quả trực tiếp của sự trì hoãn này là sự xung đột vũ trang giữa tổng thống và Đại hội đại biểu nhân dân. Các hậu quả gián tiếp nhưng lâu dài hơn bao gồm một hiến pháp cung cấp quyền kiểm soát sâu rộng cho tổng thống và hầu như không thể sửa đổi; một hệ thống đảng yếu kém và rời rạc; phi chính trị hoá các nhóm dân sự; có rất ít tiến triển trong việc thiết lập pháp quyền; và một sự giảm sút sự ủng hộ của dân chúng đối với các ý tưởng dân chủ.

Mặc dù, các khiếm khuyết này trong quá trình chuyển đổi dân chủ ở Nga, nhưng Nga đã thực hiện một sự tiến bộ quan trọng hướng đến dân chủ từ tháng 12 năm 1993. Trong khi còn thiếu sót, thì hiến pháp được phê chuẩn của Nga vẫn tốt hơn là không có. Các đảng còn yếu nhưng vẫn có một vai trò trung tâm hơn trong nền chính trị Nga từ tháng 12 năm 1993 so với trước đó. Có lẽ quan trọng nhất, đó là tất cả các tác nhân chính trị chính đã chấp nhận bầu cử như là phương thức duy nhất đi đến quyền lực ở Nga. Sự chấp nhận đối với các cuộc bầu cử và hiến pháp như là các quy tắc của trò chơi đã cho thấy Nga không mãi mãi chịu số phận bán độc tài, bán dân chủ. Nếu Nga có thể qua khỏi suy thoái kinh tế và phân cực chính trị với cấu trúc kinh tế đa dạng hơn và các đảng phái chính trị dựa trên lợi ích, thì các thể chế chính trị cơ bản lần đầu tiên được thiết lập vào cuối năm 1993 có thể cung cấp điều kiện cho sự làm sống lại dân chủ ở Nga trong tương lai.