Chính phủ tốt, chính phủ tồi

Sản phẩm do nhóm Tinh Thần Khai Minh chủ trương chuyển ngữ.

Tải về tại đây:

CHÍNH PHỦ TỐT, CHÍNH PHỦ TỒI

Tác giả: Francis Fukuyama

Chuyển ngữ: Nguyễn Phương Uyên

Hiệu đính: Minh Anh

 

Tại sao chính phủ tại một số nước phát triển lại làm việc hiệu quả hơn chính phủ ở những nước khác; cải cách chính trị diễn ra như thế nào? Tại sao hiện đại hoá không phải là điều kiện cần và đủ cho cải cách nhưng sẽ giúp ích cho cải cách? Vai trò của những nhân tố bên ngoài trong việc thúc đẩy cải cách.

 

Đây là lúc rút ra một số kết luận chung về quá trình xây dựng nhà nước và hiện đại hóa khu vực công. Mục đích của phần này của cuốn sách là giải thích tại sao một số nước phát triển lại thành công khi bước vào thế kỷ 21 với một chính phủ khá hiệu quả và không tham nhũng, trong khi những nước khác tiếp tục bị cản trở bởi chủ nghĩa bảo trợ, tham nhũng, điều hành kém, và một mức độ tín nhiệm thấp vào chính phủ nói riêng và xã hội nói chung. Giải thích được điều này có thể cung cấp cho chúng ta cái nhìn sâu sắc về các chiến lược mà các nước đang phát triển đương đại có thể sử dụng để giải quyết các vấn đề tham nhũng và bảo trợ hiện nay.

Mọi xã hội hiện đại đều bắt đầu từ cái mà Weber gọi là nhà nước thân hữu, đó là những chính phủ được vận hành bởi bạn bè và gia đình của người cai trị, hoặc những người thuộc tầng lớp thống trị trong xã hội. Những nhà nước này chỉ cho phép những cá nhân được nhà cầm quyền ưu ái tiếp cận với quyền lực chính trị và các cơ hội kinh tế; có rất ít nỗ lực nhằm đối xử công bằng với người dân, dựa trên những quy tắc được áp dụng phổ quát.1 Chính phủ hiện đại – tức là một bộ máy công chức nhà nước khách quan và phổ quát – chỉ có thể phát triển theo thời gian và trong nhiều trường hợp đã không có sự phát triển gì cả.

Tôi đã chọn những trường hợp khác nhau về mức độ thành công hay thất bại trong quá trình hiện đại hoá này. Đức đã xây dựng được cốt lõi của một nhà nước hiện đại vào những thập niên đầu của thế kỷ 19. Nhật Bản, như chúng ta sẽ thấy trong chương 23, đã tạo ra một bộ máy quan lại hiện đại gần như từ con số không ngay sau khi đất nước được mở cửa trong thời Minh Trị Duy Tân. Ngược lại, Ý và Hy Lạp đã không bao giờ phát triển một nhà nước hiện đại vững mạnh và vẫn tiếp tục duy trì chủ nghĩa bảo trợ cho đến ngày nay. Anh và Mỹ là những trường hợp trung gian: cả hai đều đã có bộ máy quan lại mang nặng tính bảo trợ trong nửa đầu thế kỷ 19, hay trong trường hợp của Mỹ, chủ nghĩa bảo trợ đã phát triển mạnh mẽ. Anh Quốc cải cách hệ thống của họ khá quyết đoán sau báo cáo Northcote-Trevelyan trong những năm 1850, trong khi đó nước Mỹ cũng dần cải cách khu vực công của họ từ đầu những năm 1880 đến những năm 1930.

Nhà nước thân hữu có thể có tính ổn định cao. Chúng được xây dựng bằng những khối hợp nhất trên nền tảng bản chất xã hội của con người, đó là khuynh hướng sinh học thiên vị cho gia đình và bạn bè, những người mà đã từng trao đổi những ân huệ có đi có lại với họ. Giới tinh hoa xây dựng quyền lực thông qua quản lý chuỗi bảo trợ mà qua đó người được nhận bảo trợ phải ủng hộ người đã bảo trợ cho họ hòng cốt để nhận lấy những lợi ích cá nhân. Tất cả những điều này được củng cố bởi lễ nghi, tôn giáo và những tư tưởng nhằm hợp thức hoá một dạng thức thống trị cụ thể nào đó của giới tinh hoa. Những nhóm tinh hoa này được tổ chức tốt hơn so với những nhóm khác trong xã hội, đặc biệt là những người nông dân phân tán và nghèo đói trong xã hội nông nghiệp – và, họ dễ dàng tiếp cận vũ khí hơn cũng như được huấn luyện để sử dụng vũ lực. Khi qui mô của xã hội lớn hơn, những mạng lưới bảo trợ không chính thức chuyển đổi thành các hệ thống bảo trợ phân cấp được tổ chức một cách quy củ hơn. Nhưng nguyên tắc tổ chức chính trị cơ bản – sự thiên vị qua lại – vẫn không thay đổi. Một khi họ đạt được quyền lực chính trị, giới tinh hoa điều hành dạng hệ thống này có thể bị thay thế bởi nhóm khác, những nhóm tinh hoa mà có tổ chức tốt hơn, nhưng hiếm khi nào là nhóm không phải tinh hoa ở bên dưới họ. Những loại nhà nước tiền hiện đại này đã tồn tại kế tục nhau bền vững trong nhiều thế kỷ và còn tồn tại trên thế giới cho đến ngày nay.

Con đường dẫn đến chính phủ hiện đại

Một số xã hội đã thành công trong việc chuyển đổi từ một nhà nước thân hữu sang một nhà nước hiện đại như thế nào? Những trường hợp được chọn ra đây cho thấy có ít nhất hai con đường quan trọng.

Con đường đầu tiên là cạnh tranh quân sự. Trung Quốc cổ đại, Phổ, Nhật Bản, tất cả đều nhận thấy khi tham chiến trong một cuộc chiến tranh kéo dài với các nước láng giềng thì tổ chức chính phủ hiệu quả là điều cực kì quan trọng đối với sự tồn vong của quốc gia. Cạnh tranh quân sự tạo ra những mệnh lệnh còn mạnh hơn bất kỳ một động lực kinh tế nào: sau tất cả không có gì là đáng giá, nếu tôi và cả gia đình tôi có thể bị tàn sát tại cuối một trận chiến. Từ nhu cầu xây dựng một quân đội thường trực chính quy; nhà nước cần đạt ra những loại thuế mới và gia tăng ngân sách; cần một bộ máy quan liêu để thu thuế lẫn quản lý chuỗi tài chính và hậu cần cung cấp cho quân đội trên chiến trường; và do đó sẽ làm đảo lộn mối quan hệ trong giới tinh hoa bằng cách buộc tuyển dụng thường dân để phục vụ hoặc trở thành lãnh đạo trong quân đội.

Ở một mức độ nào đó xây dựng dân tộc là mấu chốt để xây dựng một nhà nước thành công, và chiến tranh cũng có một vai trò quan trọng. Chủ nghĩa dân tộc từng là một nguyên tắc chủ đạo vào thời kỳ Cách mạng Pháp, và bản sắc dân tộc được thúc đẩy hơn nữa bởi sự điều chỉnh ranh giới chính trị để tương thích với văn hoá, dân tộc, hay ngôn ngữ của các cộng đồng đương thời. Như chúng ta sẽ thấy trong chương cuối, điều này thường yêu cầu vẽ lại các biên giới một cách đầy bạo lực, hoặc giết chóc, hoặc di chuyển, hoặc đồng hoá cưỡng bức người dân sống ở đó.

Trong tập một, chúng ta đã thấy một số ví dụ về hiện đại hoá nhà nước thông qua chiến tranh, đặc biệt là trường hợp của Trung Quốc, mà tôi cho rằng là xã hội đầu tiên thiết lập được một nhà nước thống nhất, phổ quát và khách quan. Chính người Trung Quốc đã đặt ra các kỳ thi tuyển và chế độ trọng dụng nhân tài trong thế kỷ thứ ba, TCN, một thực tiễn mà không được thực hiện rộng rãi ở châu Âu mãi cho đến thế kỷ thứ 19. Cả người Mamluk và Ottoman đã đạt được một hình thức quản lý công hiện đại và duy lý thông qua điều mà dường như giống với thể chế nô lệ quân sự quái gở, trong đó trai tráng bị bắt ở những vùng đất nước ngoài, bị cách ly khỏi gia đình của họ, và được rèn luyện để trở thành binh lính và người quản lý.

Phổ cũng vậy, nhận thấy áp lực từ cạnh tranh quân sự nên đã dần áp dụng những yếu tố tạo nên bộ máy quan liêu tự chủ hiện đại, mà đã tồn tại cho đến nay. Điều này bắt đầu vào năm 1660 theo quyết định của không giải tán quân đội sau Hoà ước Oliva mà cần duy trì quân đội thường trực của Tuyển hầu tước vĩ đại, điều này đòi hỏi cần phải tái tổ chức lại toàn bộ máy hành chính quốc gia. Thất bại của Phổ trước Napoléon buộc Phổ phải mở rộng bộ máy quan liêu để dung nạp tầng lớp trung lưu theo cải cách Stein – Hardenberg. Sự thành lập một bộ máy quan liêu dựa trên tài năng đã tạo thành một liên minh chính trị chuyên chế ủng hộ cho sự tự trị liên tục của nó. Do đó, một lúc nào đó, khi một chính trị gia hay một đảng chính trị cài người vào trong bộ máy quan liêu, thì những người ủng hộ bộ máy này sẽ phản đối kịch liệt và chính trị gia đó bị buộc phải lùi bước. Ở Phổ, sự tự trị này tiến quá xa, đến mức mà những nhà lãnh đạo được bầu một cách dân chủ nhận thấy rằng họ không thể kiểm soát được nhánh quân sự của bộ máy. Bismarck đã tạo nên một nước Đức hiện đại thông qua chiến tranh, và đã giải phóng chủ nghĩa dân tộc hiếu chiến mà đỉnh điểm là hai cuộc chiến tranh thế giới. Vì thế, nhà nước hiện đại và bản sắc dân tộc có được với cái giá rất đắt.

Con đường thứ hai để hiện đại hoá nhà nước là thông qua quá trình cải cách chính trị hòa bình, dựa trên sự hình thành một liên minh của các nhóm xã hội quan tâm đến việc tạo ra một chính phủ hiệu quả và không tham nhũng. Ẩn bên dưới sự hình thành một liên minh như vậy là quá trình hiện đại hoá kinh tế- xã hội. Nhưng được lưu ý trong khuôn khổ chung về sự phát triển đã trình bày trong chương 2, tăng trưởng kinh tế thường thúc đẩy sự huy động xã hội thông qua sự phân chia lao động ngày càng mở rộng. Công nghiệp hoá dẫn đến đô thị hoá, yêu cầu trình độ cao hơn, chuyên môn cao hơn, và hàng loạt những thay đổi khác đã tạo ra những tổ chức xã hội mới chưa từng có trong một xã hội nông nghiệp. Những tổ chức này không có nhiều quyền lợi trong hệ thống thân hữu hiện thời, họ hoặc có thể được kết nạp vào hệ thống hoặc có thể tổ chức một liên minh bên ngoài để thay đổi các quy tắc mà hệ thống vận hành.

Trường hợp thứ hai này đã xảy ra ở Anh và Mỹ. Cả hai nước đều thực hiện công nghiệp hoá rất sớm, và nhóm trung lưu mới được hình thành dẫn dắt cải cách dịch vụ dân sự, điều này thể hiện qua hành động lập pháp như cải cách Northcote-Trevelyan và đạo luật Pendleton. Quá trình cải cách của Anh diễn ra nhanh hơn nhiều so với người Mỹ vì nhiều lý do: thứ nhất, tầng lớp tinh hoa của Anh nhỏ gọn hơn và có một sự kiểm soát đáng kể đối với quá trình cải cách; thứ hai, hệ thống Westminster của Anh đề ra ít trở ngại hơn đối với các hành động chính trị quyết đoán so với hệ thống kiểm soát và cân bằng khá phức tạp của Mỹ. Hệ thống tòa án, sự phản đối ở cấp độ bang, và khó khăn trong việc dành được đa số trong cơ quan lập pháp, vốn không ảnh hưởng đến quá trình cải cách ở Anh, song lại làm chậm quá trình cải cách ở Mỹ. Tuy nhiên, sự khác biệt quan trọng nhất là thực tế rằng chủ nghĩa bảo trợ đã ăn sâu vào nền chính trị Mỹ trước khi bắt đầu cải cách nên khó loại bỏ được.

Điều này dẫn đến câu hỏi, tại sao ở một số nước chủ nghĩa bảo trợ lại mạnh mẽ và phổ biến hơn so với những nước khác. Câu trả lời được đề nghị ở đây cho những trường hợp được lựa chọn về cơ bản là của Martin Shefter: đây là vấn đề về thứ tự qua đó các thiết chế hiện đại được giới thiệu, và đặc biệt, là giai đoạn mà sự mở rộng bầu cử dân chủ lần đầu tiên diễn ra.2 Tôi đã định nghĩa chủ nghĩa bảo trợ là sự trao đổi những lá phiếu và ủng hộ chính trị vì các lợi ích cá nhân chứ không phải vì các chính sách có tầm nhìn, và phân biệt nó với hệ thống đỡ đầu của giới tinh hoa trong đó phạm vi tuyển dụng bảo trợ giới hạn hơn nhiều và kém tổ chức hơn. Chủ nghĩa bảo trợ xuất hiện khi nền dân chủ ra đời trước khi một nhà nước hiện đại có thời gian để củng cố thành một thiết chế tự trị với một liên minh chính trị ủng hộ riêng của nó. Chủ nghĩa bảo trợ là một hình thức hiệu quả để vận động chính trị trong những xã hội có nền giáo dục và mức thu nhập thấp, và do đó tốt nhất nên được hiểu là dạng sơ khai của dân chủ. Ở Mỹ, Hy Lạp, Ý sự mở rộng quyền bầu cử được thực hiến trước khi tạo ra một nhà nước hiện đại: tại Mỹ trong thập niên 1830, tại Hy Lạp từ 1844 đến 1864 và tại Ý trong giai đoạn sau 1964. Các đảng chính trị ở cả ba nước đều đã dùng bộ máy quan liêu như một nguồn lợi cấp cho những người được bảo trợ, và vì vậy dẫn đến những hậu quả tai hại có thể dự liệu trước về năng lực của nhà nước. Nguyên tắc của một chính phủ hiệu quả là trọng dụng nhân tài; nguyên tắc của nền dân chủ là sự tham dự của dân chúng. Hai nguyên tắc này có thể cùng được thực hiện, nhưng giữa chúng luôn có sự xung đột tiềm ẩn.

Sự tương tác giữa các kích thước phát triển khác nhau này tất nhiên sẽ phức tạp hơn, có thể được minh họa như sau:

Sự huy động xã hội
Pháp quyền
Xây dựng nhà nước
Trách nhiệm giải trình
Sự phát triển kinh tế

Hình 8: Con đường pháp triển của Phổ/Đức

Hình 8 thể hiện con đường phát triển của Phổ/Đức. Phổ bắt đầu xây dựng một nhà nước mạnh không phải để phát triển kinh tế mà đúng hơn vì sự sống còn của đất nước. (Các đường chấm nối việc xây dựng nhà nước với trách nhiệm giải trình cho thấy tác động của cái sau đối với cái trước là tiêu cực). Dù việc xây dựng nhà nước diễn ra trong một chính phủ chuyên chế, như chúng ta đã thấy, song nó đã có một tác động tích cực đến sự phát triển của nền pháp quyền. Bộ máy quan liêu quản lý thông qua luật pháp; trong khi nhà nước không chấp nhận những nguyên tắc giải trình dân chủ, chủ quyền của nó ngày càng dựa vào quan niệm cho rằng bộ máy quan liêu là người giám hộ lợi ích công.

Sự kết hợp giữa một nhà nước hiện đại và nền pháp quyền đã tạo tiền đề cho nền kinh tế phát triển vượt bậc vào khoảng giữa thế kỷ 19. Sử gia kinh tế Alexander Gerschenkron đã ghi nhận rằng, tại Đức, sự phát triển muộn khiến nhà nước đóng vai trò lớn hơn trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hơn tại Anh, một nhà nước có năng lực cao ở đầu quá trình công nghiệp hoá.3 Tăng trưởng kinh tế đã dẫn đến sự xuất hiện của tầng lớp công nhân và sự huy động của nó dưới khẩu hiệu của Đảng Dân chủ Xã hội Đức. Con đường đến với dân chủ tự do của Đức là thông qua chiến tranh, cách mạng, và đàn áp trong những năm đầu thế kỷ 20. Sự phát triển sớm của một nhà nước mạnh và tự trị đã có tác động tiêu cực đối với sự giải trình dân chủ, đưa đất nước vào chiến tranh thế giới thứ nhất, và sau đó là phá hoại nền dân chủ Weimar. Một nền dân chủ tự do hoàn toàn chỉ xuất hiện sau khi Cộng hòa Liên bang Đức được thành lập năm 1949.

Mỹ tiến đến hiện đại hoá chính trị bằng một con đường rất khác (xem hình 9). Mỹ thừa hưởng từ Anh một nền pháp quyền mạnh mẽ dưới dạng thông luật, một thiết chế hiện diện khắp mọi thuộc địa Anh trước khi nền dân chủ xuất hiện. Nguyên tắc của pháp quyền, với sự bảo vệ mạnh mẽ quyền sở hữu tư nhân, tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế nhanh chóng trong thế kỷ 21. Tuy nhiên, sự ra đời sớm của phổ thông đầu phiếu dành cho những người đàn ông da trắng đã có tác động tiêu cực đến xây dựng nhà nước của Mỹ, nó khiến cho chủ nghĩa bảo trợ phổ biến hầu như khắp các cấp chính quyền (đường chấm nối trong hình 9). Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế tạo ra các nhóm xã hội mới, được huy động thông qua xã hội dân sự, cũng như những phe phái mới trong các đảng chính trị hiện thời. Một liên minh cải cách sau đó đã thúc đẩy hiện đại hoá nhà nước Hoa Kỳ.

Xây dựng nhà nước
Giải trình trách nhiệm
Pháp quyền
Phát triển kinh tế
Sự huy động xã hội

Hình 9. Con đường của Mỹ

Cuối cùng, hình 10 minh hoạ con đường của Hy Lạp và miền nam nước Ý. Điểm khởi đầu của sự phát triển không phải là xây dựng nhà nước cũng không phải là phát triển kinh tế, đúng hơn đó là sự huy động xã hội (điều mà trước đây đã mô tả là hiện đại hoá mà không có sự phát triển) và sự dân chủ hoá sớm. Sự yếu kém và thiếu cơ hội trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa khiến nhà nước bị xâu xé, đầu tiên bởi những nhóm tinh hoa trong xã hội và sau đó là bởi các đảng chính trị đại chúng khi nền sự dân chủ hóa diễn ra sâu hơn. Chủ nghĩa bảo trợ rộng rãi đã làm suy yếu năng lực nhà nước, điều mà sau đó kiềm toả hơn nữa sự phát triển kinh tế (những đường chấm nối).

Huy động xã hội
Phát triển kinh tế
Pháp quyền
Trách nhiệm giải trình
Xây dựng nhà nước

Hình 10. Con đường của Hilap/ miền nam Ý

Ở Anh và Mỹ, hiện đại hoá kinh tế dẫn đến huy động xã hội, điều mà từ đó tạo điều kiện cho việc loại bỏ sự đỡ đầu và chủ nghĩa bảo trợ. Ở cả hai nước, tầng lớp trung lưu mới đã tìm cách chấm dứt hệ thống bảo trợ. Điều này khiến một số người tin rằng hiện đại hoá kinh tế xã hội và sự tạo thành tầng lớp trung lưu sẽ tạo ra một chính phủ hiện đại. Nhưng các trường hợp ở Hy Lạp và Ý đã chứng minh đây là một quan điểm sai lầm, trong những xã hội hiện đại và giàu có này chủ nghĩa bảo hộ vẫn tiếp tục được áp dụng. Không có một cơ chế nào có thể tự động tạo ra một chính phủ hiện đại, trong sạch, bởi vì cần rất nhiều yếu tố để tạo thành nó.

Một trong những yếu tố đó là chất lượng của sự tăng trưởng kinh tế. Chúng ta đã thấy Hy Lạp và miền nam nước Ý bước vào quá trình công nghiệp hoá khá trễ, và quá trình đô thị hoá có đặc tính rất khác so với Anh và Mỹ. Tại Anh và Mỹ, những nhóm nghề mới và các quan hệ xã hội đã được tạo ra bởi quá trình công nghiệp hoá; ở Hy Lạp và Ý chỉ đơn thuần là những cuộc di dân từ nông thôn lên thành phố, mang theo những thói quen và lối sống của mình. Trong một nền kinh tế tư bản phát triển mạnh, lợi ích cá nhân thường được thúc đẩy tốt nhất thông qua những chính sách công rộng lớn như đánh thuế thấp, những hình thức điều tiết, và các tiêu chuẩn phù hợp cho nội thương và ngoại thương. Ngược lại, khi quan hệ xã hội được bảo tồn nguyên vẹn qua quá trình nông thôn hoá thành thị, thì việc duy trì những hình thức tổ chức xã hội mang tính bảo trợ dễ dàng hơn nhiều. Hối lộ cá nhân vốn là bản chất của chủ nghĩa bảo trợ, trở nên quan trọng hơn so với chính sách.4

Thứ hai, không có gì đảm bảo rằng thành viên của giai cấp trung lưu sẽ ủng hộ một liên minh thực hiện cải cách chống lại chủ nghĩa bảo trợ. Ngay cả Mỹ, không phải tất cả các tổ chức xã hội được tạo thành bởi quá trình công nghiệp hoá đều tham gia vào phong trào cải cách. Như chúng ta đã thấy, ngành đường sắt đã tìm cách khiến cho chủ nghĩa bảo trợ hiện thời có lợi cho họ; trong nhiều trường hợp, đúng hơn là khách hàng của ngành đường sắt – những nhà buôn và nông dân – là những người dẫn dắt trong việc chống lại mối quan hệ thân hữu giữa ngành đường sắt và các chính trị gia. Theo một nghĩa nào đó,  đã có sự cạnh tranh giữa các nhóm lợi ích trung lưu mới phản đối bảo trợ và bộ máy đô thị hiện thời trong việc trành giành sự ủng hộ của những nhóm xã hội mới như người nhập cư.

Tại Hy Lạp và miền nam nước Ý, sự cạnh tranh trong việc lôi kéo tầng lớp trung lưu vào liên minh cải cách gần như thất bại trước khi bắt đầu. Ở Ý, có một tầng lớp trung lưu cải cách mạnh ở miền Bắc đã dẫn đầu một liên minh để thay đổi bản chất chính trị ở miền Nam. Nhưng sự yếu kém của nhà nước đương thời khiến họ nhận ra dự án này quá tham vọng, và vì vậy việc duy trì một nền hoà bình và ổn định bằng cách lợi dụng tầng lớp tinh hoa địa phương và những mối quan hệ bảo trợ của họ sẽ dễ dàng hơn. Ở cả hai đất nước, những nhóm ít bảo trợ hơn là những nhóm cực tả, gồm những người Cộng sản Hy Lạp và Ý. Nhưng cả hai đảng đều có kế hoạch lật đổ toàn bộ hệ thống dân chủ, cho nên đã bị các cường quốc phản đối mạnh mẽ, bao gồm cả Anh và Mỹ. (Ở Ý, Cộng sản đã thành công và lên nắm quyền tại Turin và Bologna, nó được địa phương ở đây ghi nhận rằng đã hoạt động minh bạch và hiệu quả.) Trong khi Phe cấp tiến tại Mỹ cũng có xu hướng nghiên về phía cánh tả, họ có nhiều lợi ích trong việc bảo tồn chế độ hiện thời, vì lẽ ấy nên họ có rất nhiều cơ may để nắm giữ quyền hành ở cấp quốc gia.

Thứ ba có thể đó là những yếu tố về văn hoá, giải thích cho những kết quả khác biệt giữa Đức, Anh và Mỹ với Hy Lạp và Ý. Sự tư lợi chỉ giải thích một phần lý do vì sao các nhóm xã hội muốn thúc đẩy thay đổi, và nó không lý giải được tại sao có một mức độ cao về tính đạo đức thường đi kèm theo những phong trào này. Trong mỗi quốc gia, bản thân những người lãnh đạo phong trào cải cách thường bị thúc đẩy bởi lòng mộ đạo cá nhân. Họ bao gồm Tuyển hầu tước vĩ đại và Frederick William I của Phổ, mà chủ thuyết Calvin khiến họ chiêu mộ những đồng đạo ngoài nước và cho họ thấy một viễn cảnh về một xã hội đạo đức và khổ hạnh được lãnh đạo bởi một nhà nước chính trực. Thuyết Calvin cũng ngấm vào nhà nước Hà Lan, vốn đã tích trữ một lượng tài sản khổng lồ và quyền lực vào thế kỷ thứ 17 sau khi dành độc lập từ nước Tây Ban Nha Công giáo.5 Trước khi nội chiến Anh xảy ra, Thanh giáo là một tác nhân quan trọng trong cải cách ở Anh, và nó tiếp tục chi phối hành vi của tầng lớp trung lưu mới trong thế kỷ 19. Điều này cũng khá đúng với những nhà cải cách xuất thân từ giới quý tộc trong Kỷ nguyên Tiến bộ tại Mỹ cuối thế kỷ 19, họ đã không nghĩ rằng những ông trùm chính trị và sự bảo trợ chính trị đơn thuần chỉ phục vụ cho việc kiếm tiền. Về đạo đức, họ cảm thấy phẫn nộ khi công sở đã bị biến chất cho những mục đích cá nhân. Trong khi, người Mỹ có thể mất niềm tin vào nhà cầm quyền, thì họ cũng tin rằng chính phủ dân chủ của họ là rất hợp pháp và việc quá trình dân chủ bị thao túng bởi những nhóm lợi ích và những chính trị gia suy đồi là một đòn tấn công chống lại chính các nguyên tắc của nền dân chủ. Những lãnh đạo cá nhân như Gifford Pinchot được dẫn dắt bởi một dạng tôn giáo Tin Lành, thứ mà hầu như đã biến mất khỏi đời sống cộng đồng Mỹ đương đại.

Đặt lòng trung thành với quốc gia lên trên lòng trung thành với gia đình, vùng miền, hoặc bộ tộc đòi hỏi niềm tin và vốn xã hội rộng lớn. Anh và Mỹ là những xã hội có truyền thống cả về hai nguồn lực trên, ích nhất là khi so với Hy Lạp và miền nam nước Ý. Sẽ không có phong trào xã hội nào nếu không có động lực thúc đẩy dân chúng tham gia vào các tổ chức xã hội dân sự và họ cũng sẽ không hứng thú để tham gia trừ khi những lý tưởng về trách nhiệm công dân đối với cộng đồng xã hội hiện diện trong dân chúng.

Nguồn vốn xã hội tại Anh và Mỹ rất đa dạng. Một trong số đó liên quan đến một dạng phe nhánh của Đạo Tin Lành, được nhắc đến phần trước, vốn đã ăn sâu vào cả hai nước và khuyến khích các cơ sở tôn giáo cơ sở sinh hoạt, mà không phụ thuộc vào các thiết chế tập trung và phân cấp. Tuy nhiên, nguồn thứ hai liên quan đến bản sắc dân tộc mạnh đã được tổ chức xung quanh các thiết chế – tại Anh: Thông luật, Nghị viện và Vua, và tại Hoa Kỳ, với một truyền thống Thông luật tương tự và các thiết chế dân chủ bắt nguồn từ Hiến pháp. Cho đến thế kỷ 19, chính phủ của hai nước được xem là biểu hiện hợp pháp của chủ quyền quốc gia và là đối tượng của lòng trung thành.

Người Hy Lạp và Ý luôn có một cảm quan hỗn loạn hơn về bản sắc dân tộc. Hy Lạp là một xã hội tương đối đồng nhất về văn hoá, đạo đức và tôn giáo, nhưng nhà nước của họ thường bị xem là công cụ cho ngoại bang, do vậy nó không có tính chính danh. Lòng trung tín bị giới hạn trong một vòng tròn hẹp giữa các thành viên trong gia đình; còn nhà nước là đối tượng của sự nghi ngờ. Ý, đặc biệt tại miền nam Ý, cũng từng là nơi nhiều thế lực ngoại bang đã khích cho người Ý chống phá lẫn nhau. Sau 1861 nước Ý thống nhất, các khu vực có nền văn hoá và mức độ phát triển rất khác nhau được liên kết, song Ý chưa bao giờ có được quyền lực chính trị đủ mạnh để đồng hóa miền Nam vào miền Bắc. Cho đến ngày nay, sự trung thành khu vực thường lấn át bản sắc dân tộc, thể hiện qua sự tồn tại của một Liên minh Miền bắc. Cũng từng có những vị anh hùng được thôi thúc bằng một ý thức mạnh mẽ về trách nhiệm dân sự, như Alberto Dalla Chiesa và Giovanni Falcone. Ngoài ra còn có những tàn dư của truyền thống Cộng hoà dân sự mạnh mẽ tại các thành phố ở miền Bắc. Nhưng đặc biệt ở miền Nam, việc thiếu các thể chế nhà nước chính danh khiến cho niềm tin bị thu hẹp chỉ còn giữa bạn bè và gia đình, đó là một xu hướng về sau được thể chế hoá thông qua những tổ chức như Mafia.

Tái thân hữu hoá (repatrimonialization)

Trước khi người Mỹ, người Anh, người Đức hài lòng về chế độ chính trị của họ, thì họ cần phải lưu ý rằng vấn đề thân hữu vẫn chưa được giải quyết triệt để ở bất cứ hệ thống chính trị nào. Tôi đã lập luận trong Tập 1 của quyển sách rằng tin cậy vào bạn bè và gia định là đặc tính xã hội của con người và do đó nó sẽ luôn trở lại trong nhiều hình thức khác nhau nếu thiếu những động cơ thúc đẩy họ hành xử khác hơn. Nhà nước hiện đại, khách quan buộc chúng ta hành xử ngược với bản chất tự nhiên của chúng ta, và vì thế luôn tồn tại nguy cơ thoái hoá và tái phạm. Bất kì trong xã hội nào, giới thượng lưu cũng tìm cách xâm nhập vào hệ thống chính trị trước để củng cố địa vị bản thân và cài cắm gia đình, bạn bè của họ trừ khi những lực lượng khác trong hệ thống chính trị công khai ngăn chặn việc này. Điều này cũng đúng với nền dân chủ tự do không kém so với các trật tự chính trị khác, ta có thể nói rằng sự tái thân hữu hóa sẽ luôn hiện diện.

Những cải cách trong Thời đại Tiến bộ tại Mỹ đã loại bỏ một hình thức đặc biệt của chủ nghĩa bảo trợ, đó là khả năng các đảng chính trị duy trì sự ủng hộ thông qua việc phân bổ việc làm trong bộ máy quan liêu ở các cấp liên bang, tiểu bang và địa phương. Tuy nhiên, nó đã không chấm dứt được tình trạng phân phát các dạng ơn huệ khác như trợ cấp, giảm thuế và các lợi ích khác cho những người ủng hộ chính trị. Một trong những vấn đề lớn ảnh hưởng đến nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây là sự tác động của các nhóm lợi ích, họ có thể mua chuộc các chính trị gia bằng các đóng góp cho việc tranh cử hoặc qua vận động hành lang. Hầu hết các hoạt động này là hoàn toàn hợp pháp, vì vậy theo khía cạnh nào đó Mỹ đã tạo ra một hình thức mới của chủ nghĩa bảo trợ với quy mô và những khoản tiền lớn hơn rất nhiều. Đây là vấn đề mà tôi sẽ trở lại trong phần cuối của tập này.

Đây không chỉ là vấn đề riêng của Mỹ. Như đã ghi nhận, Nhật Bản có một truyền thống về một bộ máy quan liêu mạnh, tự trị và việc làm trong bộ máy  này  chưa  bao  giờ  là  đối  tượng  của  tham  nhũng. Thế  nhưng  tiền  thưởng  từ ngân sách đã là phương tiện cho cái gọi là chính trị tiền tệ ở Nhật trong nhiều thập kỷ,  và  Đảng  Dân  chủ  Tự  do  đã  duy  trì  vị  trí  thống  trị trong nhiều thập niên thông qua việc phân phát lợi  ích chính trị một cách khéo léo. Khả năng những nhóm lợi ích của Nhật Bản, như ngành công nghiệp điện tử, trong việc tác động lên các nhà quản lý đã quá rõ ràng qua cuộc khủng hoảng bao trùm lên nước này sau trận động đất Tohoku và thảm họa hạt nhân Fukushima năm 2011.

Có nên cho chiến tranh một cơ hội?

Cạnh tranh quân sự là một động lực quan trọng trong việc hiện đại hoá nhà nước trong những trường hợp được lựa chọn ở đây, nhưng nó không phải là điều kiện cần và đủ để đạt được kết quả này. Mô hình của chúng ta là thiên về những trường hợp thành công, nhưng một số nhà quan sát đã chỉ ra rằng sự cạnh tranh quân sự kéo dài ở những đất nước khác trên thế giới đã không tạo ra những nhà nước hiện đại. Điều này nghiệm đúng với những bộ lạc ở Papua New Guinea và những phần khác của Melanesia, tuy đánh lẫn nhau suốt 40 ngàn năm cho tới nay, nhưng vẫn không thế đạt được một hình thức tổ chức cấp nhà nước cho đến khi thực dân Châu Âu xuất hiện. Điều này cũng khá đúng với Mỹ-Latinh, mà các cuộc chiến của nó đã kết thúc song tầng lớp tinh hoa bảo trợ vẫn cầm quyền (xem chương 17 bên dưới). Rõ ràng có những điều kiện khác như địa lý tự nhiên, cấu trúc các giai tầng trong xã hội và ý thức hệ, kết hợp với chiến tranh tạo ra nhà nước hiện đại ở Châu Á và Châu Âu nhưng không ở những nơi khác.

Ngược lại, các nước khác đã tạo ra những chính phủ hiện đại, không có tính bảo trợ mà không cần cạnh tranh quân sự. Trong khi Thuỵ Điển và Đan Mạch đã tham chiến trong rất nhiều cuộc chiến thời cận đại, thì các nước láng giềng của họ là Na Uy, Phần Lan, và Iceland đã không tham gia nhưng tất cả họ đều có những chính phủ tương đối minh bạch như ngày nay. Hàn Quốc là nạn nhân của ngoại xâm, chiếm đóng và bạo lực bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 cho đến khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc nhưng họ có một hệ thống quan liêu có phẩm chất ngang bằng với Nhật Bản và thuộc địa cũ của Anh là Singapore cũng như vậy. Canada, Úc và New Zealand có những nhà nước hiện đại không mang tính bảo trợ nhưng cũng chưa từng có tính quân phiệt.

Trong nhiều trường hợp trên, chính phủ có chất lượng cao là kết quả kế thừa trực tiếp từ chủ nghĩa thực dân (NaUy đã độc lập với Đan Mạch vào năm 1813, Iceland vào năm 1874, và Canada tách ra từ Anh Quốc vào năm 1867). Các trường hợp khác là do sự sao chép có chọn lọc từ những mô hình khác. Singapore và Malaysia tạo ra những chính phủ hiện đại hiệu quả từ con số không với nền tảng mà ban đầu trông không có vẻ gì là hứa hẹn, để đối phó với những thách thức từ những lực lượng cánh tả đã đang sôi sục trên toàn Đông Nam Á.6

Những quan sát này có ý nghĩa quan trọng cho ngày nay. Trong một phát biểu nửa thật nửa đùa, nhà phân tích quân sự Edward Luttwak đã từng đề nghị rằng cộng đồng quốc tế cần cho chiến tranh một cơ hội tại những khu vực có nhà nước yếu kém như tiểu vùng Sahara Châu Phi.7 Ông cho rằng, nhà nước hiện đại đã được tôi luyện qua nhiều thế kỷ ở Châu Âu thông qua đấu tranh quân sự gay gắt; Châu Phi với những đường ranh giới quốc gia phi lý có từ thời kỳ thuộc địa đã không cho phép nó tự giải quyết các vấn đề của mình bằng cách tương tự. Những nhà nước này đã không thể tạo ra một bộ máy công quyền mạnh lẫn một bản sắc dân tộc chung.

Ngoài việc không một ai muốn phải trải nghiệm bạo lực như đã diễn ra tại Châu Âu, thì không ai dám chắc một vài thế kỷ xung đột có thực sự đem đến một nhà nước mạnh cho những khu vực khác trên thế giới. Tại sao lại như vậy, và những giải pháp thay thế khác nào có thể giúp xây dựng nhà nước ở Châu Phi sẽ được đề cập ở phần sau của cuốn sách này dựa trên di sản từ chủ nghĩa thực dân. Mặc khác, từ sự thực rằng những nhà nước đã xây dựng được chính phủ hiện đại mà không cần chiến tranh cho thấy rằng những nhà nước đang phát triển hiện nay có thể chọn những con đường hoà bình tương tự.

Từ thực tế là sự ra đời sớm của nền dân chủ đã khuyến khích chủ nghĩa bảo trợ, và những nhà nước mạnh ngày nay đã được tôi luyện trước khi xuất hiện dân chủ, có thể khiến cho thấy rằng những nước đang phát triển đương thời cần theo sau tiến trình tương tự. Sự thực, đây là kết luận được rút ra bởi Samuel Huntington trong quyển Political Order in Changing Societies – rằng các xã hội cần có trật tự trước khi họ cần dân chủ, và rằng tốt hơn họ nến cố gắng để biến một hệ thống chuyên chế thành một hệ thống chính trị và kinh tế hoàn toàn hiện đại thay vì cố chuyển thẳng đến nền dân chủ. Quyển sách này không chỉ tán dương chế độ Cộng sản trong việc mở rộng quyền sự tham dự và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ông cũng đồng tình với nhiều hệ thống, một trong số đó được tạo ra bởi Đảng Cách mạng Thể chế của Mexico (viết tắt PRI – Partido Revolucionario Institucional), đảng đã lãnh đạo đất nước từ 1940 cho đến năm 2000, và trở lại nắm quyền vào năm 2013. PRI đã tạo ra một trật tự chính trị rất ổn định thay thế cho các cuộc đảo chính, những nhà lãnh đạo quân sự, những cuộc xung đột xã hội đầy bạo lực, vốn là đặc trưng của đất nước Mexico trong thế kỷ đầu tiên, nhưng với cái giá là hi sinh nền dân chủ và sự năng động kinh tế.8 Môn đồ của Huntington, Fareed Zakaria đã đưa ra một luận điểm tương tự về tầm quan trọng của trình tự (áp dụng thể chế), trong ít nhấn mạnh đến trật tự chính trị mà nhiều hơn đến pháp quyền, xem pháp quyền như là một điều tiên quyết cần thiết trước khi tiến đến một nền dân chủ.9

Dù  những  lý  lẽ  này  dường  như  được  suy  ra  một  cách logic  từ  hàng  loạt trường hợp, chúng không phải là những định hướng hữu hiệu đối với chính trị trong thời điểm hiện nay.10 Việc cho rằng đầu tiên xã hội cần tạo ra một bộ máy quan lại tự trị mạnh mẽ kiểu Weber, hoặc nếu không hãy đưa đến một nền pháp quyền tự do với những toà án độc lập và những thẩm phẩn được đào tạo bài bản là không có gì sai. Vấn đề là, trên phương diện xây dựng thể chế, đều rất khó để làm một trong hai cách nói trên. Các thể chế thường được quyết định trước bởi những di sản lịch sử, hoặc được hình thành bởi những cường quốc bên ngoài. Nhiều xã hội nghèo ở những nước đang phát triển có thể tạo ra những nhà nước độc tài, duy trì quyền lực thông qua phối hợp giữa đàn áp và kết nạp. Nhưng với những lý do mà chúng ta đã thấy, hầu như không có nước nào có thể tạo ra giới quan lại như của Trung Quốc hoặc nhà nước pháp quyền theo học thuyết Rechtsstaat [Đức], trong đó quyền lực độc tài được hiện thân trong một bộ máy quan lại được thể chế hoá cao độ và hoạt động thông qua những điều luật rõ ràng. Nhiều nhà nước độc tài đương thời bị đục khoét [nghiêm trọng] bởi nạn bảo trợ và tham nhũng cao. Các quốc gia duy nhất trên thế giới hiện nay đến gần hơn với đề nghị trên là một số nhà nước quân chủ ở Vịnh Ba Tư, và Singapore, mà hoàn cảnh đặc thù của chúng khiến chúng trở thành các mô hình không dễ noi theo cho các nước khác. Trong  những  hoàn  cảnh  đó, việc trì hoãn dân chủ hóa còn có ý nghĩa gì nếu các lựa chọn thay thế lại dẫn đến nền độc tài kém cỏi, tàn nhẫn, và/hoặc tha hóa?

Lý do cuối  cùng  cho  câu  hỏi  vì  sao  nỗ  lực  trình  tự hóa  một  cách  có tính toán thứ tự của các thể chế chính trị là rất rắc rối xuất phát từ khía cạnh đạo đức hay  quy  phạm. Chịu trách nhiệm giải trình thông qua các cuộc bầu cử công bằng và tự do định kỳ là một điều tốt lành tự thân, bất kể ảnh hưởng nó có thể tạo ra cho chất lượng của chính phủ hoặc sự phát triển kinh tế. Quyền tham gia chính trị mang lại sự thừa nhận sự trưởng thành về mặt đạo đức của công dân và việc thực hành quyền này mang đến cho người dân một mức độ kiểm soát đối với đời sống chung của cộng đồng. Người dân có thể đưa ra quyết định sai lầm hoặc thiếu hiểu biết, nhưng việc thực hành sự lựa chọn chính trị lại là một phần quan trọng trong sự phát triển của loài người. Đây không phải chỉ là ý kiến của riêng tôi, trên thế giới có rất nhiều người đang được vận động để bảo vệ quyền tham dự chính trị này. Mùa xuân Ả-rập năm 2011 là cuộc biểu tình gần nhất thể hiện sức mạnh của lý tưởng dân chủ, trong một vùng mà nhiều người thừa nhận rằng có một nền văn hóa chấp nhận sự cai trị độc tài.

Ở những nước vốn đã trải qua sự giới thiệu có tuần tự các thể chế chính trị hiện đại như Nga và Anh, những chế độ phi dân chủ trước kia vốn là những chế độ quân chủ truyền thống, và có những nguồn gốc riêng về tính hợp pháp. Điều này không đúng với phần lớn các nước độc tài nổi lên sau chủ nghĩa thực dân vào giữa thế kỷ 20, vốn đã được tạo nên thông qua các cuộc đảo chính quân sự hoặc tiếm quyền của giới tinh hoa. Ổn định nhất trong số đó – là Singapore và Trung Quốc – đã duy trì tính hợp pháp của họ qua những thành tựu về kinh tế nhưng lại không có nguồn ủng hộ rõ ràng như triều đại Hohenzollern.

Do đó, dù tốt hay xấu, tiến hành tuần tự không phải là một lựa chọn thực tế đối với hầu hết những nước đang phát triển hiện nay, và giống như Mỹ, những nước này phải xây dựng một nhà nước mạnh trong khuôn khổ của hệ thống chính trị dân chủ. Đó là lý do tại sao những kinh nghiệm của người Mỹ suốt Kỷ nguyên Tiến bộ là đặc biệt quan trọng. Thực tế, ngày nay không có quốc gia nào có thể làm theo mô hình nước Phổ, xây dựng một nhà nước mạnh qua đấu tranh quân sự suốt 1,5 thế kỷ. Mặc khác, việc những nhóm xã hội dân sự và những nhà lãnh đạo chính trị ở các nước dân chủ thiết lập những liên minh cải cách nhắm vào các khu vực công và chấm dứt nạn tham nhũng trắng trợn là hoàn toàn khả thi. Bài học quan trọng nhất rút ra từ kinh nghiệm của Mỹ là việc xây dựng nhà nước trước hết là một hành động chính trị. Cấu trúc một nhà nước hiện đại có thể được xác định bởi những nguyên tắc hình thức nhất định (ví dụ lựa chọn quan chức dựa trên tài đức hơn là dựa trên những mối quan hệ), nhưng việc thực thi các quy luật này chắc chắn sẽ làm tổn hại lợi ích của một số thế lực chính chị cố hữu [bảo thủ] vốn đang hưởng lợi từ tình trạng hiện hành. Vì vậy, cải cách đòi hỏi phải tống xuất những thế lực này, và tổ chức lực lượng xã hội mới có lợi cho việc tạo ra một chính phủ minh bạch và hiệu quả hơn.

Xây dựng nhà nước là một việc khó khăn và cần rất nhiều thời gian. Mất hơn 40 năm để loại bỏ sự bảo trợ cấp liên bang, diễn ra từ Đạo luật Pendleton Act đến chính sách Kinh tế mới (the New Deal). Tại New York, Chicago, và các thành phố khác bộ máy chính trị và bảo trợ vẫn còn tồn tại mãi đến năm 1960. Xin lưu ý rằng hệ thống chính trị Mỹ đặt ra những rào cản lớn cho cải cách, và không phải tất cả mọi nước đều như vậy. Thông thường các nước cũng tận dụng các cuộc khủng hoảng bên ngoài như khủng hoảng tài chính, thảm họa hoặc các mối đe doạ quân sự để đẩy nhanh quá trình này. Nhưng có rất ít tiền lệ trong lịch sử cho thấy phương thức hiện đại hoá chính trị này có thể xảy ra diễn ra chớp nhoáng

Chúng ta thấy rằng việc xây dựng nhà nước ở Hy Lạp là đặc biệt khó khăn vì những cường quốc ngoại bang. Người Thổ Nhĩ Kỳ đã thống trị Hy Lạp trong nhiều thế kỷ, rồi cũng chính những người ngoại quốc đã giúp Hy Lạp giành được độc lập; sau đó họ đặt Otto của xứ Bavaria lên làm vị vua đầu tiên cho đất nước mới được độc lập này; họ cố gắng hiện đại hoá nhanh chóng hệ thống chính trị của nó và tiếp tục can thiệp để hỗ trợ hoặc chống đối các nhóm quốc nội như những người Cộng sản Hy Lạp. Tất cả những điều này làm suy yếu tính chính danh của chính phủ Hy Lạp, tăng sự ngờ vực với nhà nước và cuối cùng dẫn đến thất bại trong việc tạo ra một hệ thống chính trị hiện đại hóa toàn diện. Do đó, cuộc đấu tranh giữa Liên minh Châu Âu, Quỹ tiền tệ quốc tế [gọi tắt IMF] và chính phủ Hy Lạp trong cuộc khủng hoảng tài chính đầu thế kỷ 21 chỉ là một [dạng khác] của câu chuyện đang diễn ra này.

Do đó, Hy Lạp là một mô tả trước về chủ đề của phần kế tiếp của cuốn sách, vốn là nỗ lực để cấy các thiết chế chính trị hiện đại từ khu vực này sang khu cực khác của thế giới. Quá trình toàn cầu hoá trở bắt đầu với những hành trình phát kiến địa lý của Châu Âu vào thế kỷ 15 và sự khởi đầu của chủ nghĩa thực dân, vốn đột ngột liên kết tất cả các khu vực khác nhau trên thế giới lại. Sự chạm trán giữa những xã hội bản xứ trên khắp thế giới với văn hoá và những thể chế Tây Phương mang đếu những hệ lụy hết sức nghiêm trọng, thường là sự chết chóc. Điều này có nghĩa rằng phát triển chính trị không còn xảy ra trong giới hạn một khu vực hay một xã hội nữa. Người bản xứ bị áp đặt hoặc tự nguyên tiếp nhận những mô hình ngoại quốc, dù có những khác biệt rất lớn về hoàn cảnh phát triển thể chế. Vì sao ở một số khu vực quá trình này diễn ra suôn sẻ hơn các khu vực khác trên thế giới, đây sẽ là chủ đề phần tiếp theo của cuốn sách này.

 

Chú thích:

  1. The term “limited access” comes from North, W allis, and W eingast, V iolence and Social Or ders . This book’ s distinction between limited-access and open-access orders is a very useful way of thinking about the transition between patrimonial and modern states. It does not, however , provide a dynamic theory of how the transition from one order to the other comes about. The “doorstep conditions” it lists for making the transition like rule of law for elites or civilian control over the military simply beg the question of how those conditions are themselves met, or why those and not other seemingly important conditions are critical to the transition.
  2. In his study of the growth of state sectors in Eastern Europe after the fall of communism, Conor O’Dwyer adds another factor to the Shefter framework: the nature of party competition. When competition is robust, parties monitor one another and prevent the expansion of patronage appointments; when parties are fragmented and weak, patronage tends to expand. This explains why the Polish and Slovak states expanded so quickly, whereas the Czech one did not. See Conor O’Dwyer , Runaway State-Building: Patr onage Politics and Democratic Development (Baltimore: Johns Hopkins University Press, 2006).
  3. Alexander Gerschenkron, Economic Backwar dness in Historical Perspective (Cambridge, MA: Harvard University Press, 1962).
  4. This point is made in Khan, “Markets, States, and Democracy.”
  5. Gorski, The Disciplinary Revolution, pp. 39–77.
  6. For an account of state building in this region, see Dan Slater , Or dering Power: Contentious Politics and Authoritarian Leviathans in Southeast Asia (New York: Cambridge University Press, 2010), pp. 135–63.
  7. Edward N. Luttwak, “Give War a Chance,” Foreign Affairs 78, no. 4 (1999): 36–44.
  8. Huntington, Political Order in Changing Societies, pp. 315–24.
  9. Fareed Zakaria, The Futur e of Fr eedom: Illiberal Democracy at Home and Abr oad (New York: Norton, 2003).
  10. See Thomas Carothers, “The ‘Sequencing’ Fallacy,” Journal of Democracy 18, no. 1 (2007): 13–27; Robert Kagan, “The Ungreat W ashed: Why Democracy Must Remain America’ s Goal Abroad,” New Republic, July 7 and 14, 2003, 27–37; Francis Fukuyama, “Is There a Proper Sequence in Democratic T ransitions?” Current History 110, no. 739 (2011): 308–10.

Nguồn: Francis Fukuyama. 2014. Good Government, Bad Government (Chính phủ tốt, chính phủ tồi; bản dịch của Nguyễn Phương Uyên). Political Order and Political Decay: From the Industrial Revolution to the Globalization of Democracy. Farrar, Straus and Giroux. Sản phẩm do nhóm Tinh Thần Khai Minh chủ trương chuyển ngữ.