Bầu cử ở Malaysia: Một bước lùi

Thông tin chi tiết

Bài báo: Malaysia’s Elections: A Step Backward (Bầu cử ở Malaysia: Một bước lùi)

Tác giả: Bridget Welsh

Tạp chí: Journal of Democracy, Issue 4, Volume 24

Chuyển ngữ: Minh Anh (Nhóm Tinh Thần Khai Minh)

Hướng dẫn trích nguồn: Bridget Welsh, “Malaysia’s Elections: A Step Backward” (Bầu cử ở Malaysia: Một bước lùi, bản dịch của Minh Anh nhóm Tinh Thần Khai Minh), Journal of Democracy 24 (tháng 10 năm 2013): trang 136 – 150.

Tải về tại đây:

BẦU CỬ Ở MALAYSIA: MỘT BƯỚC LÙI

Tác giả: Bridget Welsh

Chuyển ngữ: Minh Anh [Nhóm Tinh Thần Khai Minh]

                                                                                    

Bridget Welsh là phó giáo sư về khoa học chính trị tại Đại học Quản lý Singapore và Malaysia, lãnh đạo của Asian Barometer Survey. Cuốn sách gần đây nhất của bà, đồng biên tập với James Chin là Awakening: The Abdullah Badawi Years in Malaysia (2013)

Cuộc tổng tuyển cử thứ mười ba được chờ đợi từ lâu của Malaysia, được tổ chức vào ngày 5 tháng 5 năm 2013, chứng kiến Đảng cầm quyền Barisan Nasional (BN hay Mặt trận Quốc gia) thua phiếu phổ thông, tuy nhiên vẫn chiến thắng một lần nữa. Liên minh cầm quyền đương nhiệm, đã nắm giữ quyền lực từ khi độc lập vào năm 1957, giành được 133 ghế trong số 222 ghế Hạ viện và kiểm soát mười hai trong số mười ba cơ quan lập pháp bang. Sau khi mất đa số hai phần ba ở Quốc hội trong cuộc bầu cử trước vào tháng 3 năm 2008, BN bây giờ phải chiến đầu trong một hệ thống hai đảng cạnh tranh hơn.1 Do đó, cuộc bầu cử năm 2013 đã được chờ đợi rộng rãi mang đến cho phe đối lập có cơ hội đầu tiên để cai trị quốc gia. Việc thăm dò vào đêm trước của cuộc bỏ phiếu đã chỉ ra một khả năng thay đổi trong chính phủ,2 nhưng cuối cùng phe đối lập đã không đạt được mục tiêu của nó. Thay vào đó, Thủ tướng Najib Razak đã bảo vệ được chiến thắng bầu cử đầu tiên của mình, không để cho Anwar Ibrahim, lãnh đạo của liên minh đối lập Pakatan Rakyat (PR hay Liên minh nhân dân), cơ hội đảm đương chức vụ thủ tướng.

Mặc dù PR giành được 50,9 phần trăm số phiếu phổ thông so với 47,4 phần trăm của BN, quyền lực của đảng nắm quyền vẫn được duy trì. Do Malaysia sử dụng hệ thống bầu cử người về đầu tiên thắng cuộc kiểu Westminster. Với sự kết thúc suýt sao cũng như các báo cáo về những vi phạm trong bầu cử, chưa kể đến các khiếu nại từ lâu về quá trình bầu cử của Malaysia là không công bằng, thì các kết quả vẫn tiếp tục bị tranh cãi, với nhiều câu hỏi về tính hợp pháp của chính phủ Najib.

Tại sao và làm thế nào Najib và BN giành chiến thắng? Câu trả lời cho những câu hỏi này có ý nghĩa gì đối với chính phủ của ông và cho nền dân chủ tại Malaysia? Theo nhiều cách, các cuộc bầu cử năm 2013 tiêu biểu cho các cuộc bầu cử trong các hệ thống độc tài cạnh tranh, trong đó chính quyền đương nhiệm sử dụng chiến thuật tinh vi và ảnh hưởng thể chế để duy trì quyền lực.3 Mặc dù, theo một số góc độ thì cuộc tổng tuyển cử năm 2013 cho thấy một số kỹ thuật phức tạp được sử dụng bởi chính quyền độc tài cạnh tranh, song theo một số góc độ khác thì nó cho thấy các lực lượng xã hội đang thúc đẩy cho một sự dân chủ lớn hơn. Bản chất của chiến thắng của BN, mô hình bầu cử, và các lực lượng chính trị rộng lớn trong xã hội đang ngày càng gia tăng áp lực cho sự dân chủ hóa hơn nữa cũng như một mức độ cao của sự cạnh tranh chính trị trong tương lai.

Malaysia dường như đã là một ứng cử viên tiềm năng cho sự thay đổi chế độ kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998. Vào thời điểm đó, nhà lãnh đạo độc đoán Mahathir Mohamad đang nắm quyền, và phó thủ tưởng của ông là Anwar Ibrahim. Hai người bất đồng về cách xử lý cuộc khủng hoảng, và Anwar bị buộc phải từ chức (phó thủ tướng) và phó chủ tịch của Tổ chức Quốc gia Malay Thống nhất (UMNO), đảng chiếm chi phối trong BN. Anwar sau đó đưa ra một chiến dịch cải cách, kêu gọi cải cách chính trị, kiểm soát tham nhũng, và mở rộng các quyền tự do cơ bản. Việc đánh đập và bắt giữ ông sau đó vào năm 1998 gây ra sự phẫn nộ và sứt mẻ nghiêm trọng sự ủng hộ cho chế độ. Mặc dù phong trào cải cách Malaysia không thể kéo ngã nhà lãnh đạo độc tài của đất nước như Indonesia đã làm, tuy nhiên nó đã tạo ra các động cơ cho sự thay đổi chính trị.

Mahathir nỗ lực để tránh số phận của Suharto phần lớn bằng cách sử dụng các đòn bẩy của quyền lực nhà nước, sự bảo trợ, và viện đến sự bất an về sắc tộc.4 Nền chính trị của Malaysia vốn có truyền thống chia rẽ về sắc tộc. Khoảng 80 phần trăm dân số của quốc gia sống trên Bán đảo Malay (Phía tây hoặc bán đảo Malaysia) với phần còn lại sống tại các bang Sabah và Sarawak trên đảo Borneo (Đông Malaysia). Người Malaysia gốc Trung Quốc và Ấn Độ chiếm lần lượt 24,6 và 7,3 phần trăm tổng dân số 28,3 triệu của đất nước. Hai phần ba còn lại được gọi là Bumiputera (“những người con của đất”), một tên để bao gồm người Malay, những người chiếm khoảng hơn 50 phần trăm dân số của đất nước, và các nhóm bản địa khác, mà đa số họ cư trú trên đảo Borneo. Từ khi độc lập, người Malay chiếm đa số nắm giữ quyền lực, trong khi các sắc tộc gốc Trung Quốc và Ấn Độ cùng với các cộng đồng Bumiputera không phải Malay có xu hướng tổ chức sự đại diện của họ theo sắc tộc và khu vực, với cái sau nằm ở Đông Malaysia.5

Khi Mahathir rời nhiệm sở vào năm 2003, người kế nhiệm ông, Abdullah Badawi, tìm cách gia tăng cơ sở ủng hộ qua hứa hẹn cải cách. Chiến lược này đã được đền đáp: Năm 2004, BN giành được một kỷ lục với 90,4 phần trăm số ghế trong Quốc hội.6 Tuy nhiên, bốn năm sau, trong các cuộc bầu cử tháng 3 năm 2008, BN đánh mất đa số hai phần ba tại Quốc hội. Thất bại của Abdullah trong cuộc bầu cử năm 2008 chủ yếu là do thất bại của ông để tiến hành các cải cách được công chúng kì vọng. Một yếu tố quan trọng khác là sự không ủng hộ Abdullah trong nhóm riêng của ông, một lực lượng phản động hơn trong BN, được bảo vệ bởi Mahathir, tiếp tục đóng một vai trò nổi bật trong chính trị. Do đó Abdullah phải đối mặt, và bị thua, những thách thức trên hai mặt trận – từ một phe đối lập mới ngày càng mạnh khai thác các lời kêu gọi toàn cầu cho sự thay đổi và từ cơ sở chính trị của chính mình, vốn xem ông như một nhà lãnh đạo yếu kém so với Mahathir. Sau thất bại trong việc duy trì một mức độ ủng hộ cao cho liên minh của ông trong cuộc bầu cử, Abdullah từ chức vào tháng 4 năm 2009 và được kế nhiệm bởi Najib.

Một Sự chuyển đổi trong Văn hóa chính trị

Câu chuyện về cuộc tổng tuyển cử năm 2013 của Malaysia thực sự bắt đầu ngay sau các cuộc bầu cử năm 2008 khi một phe đối lập cố kết bắt đầu hình thành. Sau khi đạt được các thành tựu quan trọng ở cấp độ quốc gia và giành quyền kiểm soát năm chính quyền bang vào năm 2008, ba đảng đối lập hình thành Đảng PR – Đảng Công lý của Nhân dân chủ trương cải cách – dựa trên danh tiếng cá nhân của Anwar (PKR), Đảng hành động Dân chủ chủ yếu từ sắc tộc Hoa (DAP), và Đảng Malaysia Hồi giáo (PAS). Trong khi họ có quan điểm khác nhau về các vấn đề tôn giáo và các ưu tiên chính sách, các đảng này chia sẻ mối quan tâm trong việc cải tiến sự quản trị, kiểm soát tham nhũng, tăng cường nền pháp trị, và mang lại sự phát triển công bằng hơn.7 Do đó họ đặt sang một bên những khác biệt về ý thức hệ để tập trung vào mục tiêu chung của họ là loại bỏ BN khỏi quyền lực và mang về các cải cách chính trị. Tinh thần hợp tác này giữa những người Hồi giáo và những người tự do phân biệt phe đối lập của Malaysia với hầu hết các phe đối lập khác trong thế giới Hồi giáo.

Các cuộc bầu cử năm 2008 khuyến khích không chỉ phe đối lập mà còn chính các cử tri, những người bây giờ cảm thấy tự tin hơn về khả năng của mình để mang lại thay đổi chính trị. Sự thay đổi này trong văn hóa chính trị của Malaysia, mà trở nên rõ ràng sau khi Mahathir rời nhiệm sở, tiếp tục đẩy mạnh hơn triển vọng của phe đối lập, khi việc thảo luận chính trị và không gian cho sự tham gia chính trị đã mở ra. Từ năm 2008, xã hội dân sự đã được mở rộng; tiết lộ về nạn tham nhũng đã trở thành tiêu chuẩn; và phạm vi và nội dung của bài bình luận chính trị đã mở rộng đáng kể đến sự chỉ trích cởi mở hơn đối với các nhà lãnh đạo chính trị cũng như sự chú ý rất cần thiết đến các vấn đề khác, từ việc loại bỏ các luật hà khắc đến các chính sách kinh tế. Sự bùng nổ truy cập Internet – hiện nay với hơn 70 phần trăm dân số trên toàn quốc – và việc sử dụng rộng rãi các phương tiện truyền thông xã hội đã tạo điều kiện cho sự tham gia chính trị ngày càng tăng, đặc biệt là ở các khu vực đô thị.8

Nhu cầu cải cách bầu cử đã trở thành một điểm nhấn đặc biệt trong các hoạt động chính trị. Trong tháng 11 năm 2007, vấn đề này kích động hơn ba mươi ngàn người Malaysia xuống đường để yêu cầu một sân chơi bầu cử bình đẳng hơn. Sau năm 2008, với khả năng thực sự về một sự thay đổi của chính phủ sắp đến, một liên minh của hơn sáu mươi nhóm xã hội dân sự được gọi là Bersih (viết tắt của Liên minh vì các cuộc Bầu cử trong sạch và công bằng) tăng cường các nỗ lực của nó để giáo dục, và vận động người dân tập trung vào các vấn đề cải cách bầu cử. Vào năm 2011 và 2012, Bersih tổ chức cuộc biểu tình quy mô lớn theo sau cuộc biểu tình năm 2007, đòi hỏi một loạt các cải cách bao gồm một nơi đăng ký bầu cử sạch sẽ, một chiến dịch vận động cố định, sử dụng mực không thể xóa trên lá phiếu, và sự tiếp cận bình đẳng với các phương tiện truyền thông cho tất cả các đảng phái chính trị. Sự đàn áp tàn bạo của cảnh sát đối với cuộc biểu tình năm 2011 phản tác dụng, buộc chính phủ phải tiến hành các cải cách bằng cách thiết lập một ủy ban được lựa chọn quốc hội nhằm đề ra 22 sáng kiến cải cách, mặc dù một số trong những sách kiến này sau đó mang lại thuận lợi cho chính phủ đương nhiệm, tăng cường vị thế của nó trong tháng cuộc bầu cử vào tháng 5 năm 2013. Bởi vì phản ứng của chính phủ không tạo ra niềm tin ở công chúng, việc cải cách bầu cử được tăng cường hơn sau các đề nghị của quốc hội.

Không ngạc nhiên, lời kêu gọi cải cách và các thành tựu của phe đối lập vào tháng 3 năm 2008 gây ra một phản ứng. Cuộc bầu cử năm 2008 cho thấy là cuộc bầu cử với số lượng lớn nhất của người Malaysia gốc Ấn Độ và Trung Quốc trong lịch sử tham gia, và liên minh PR thực hiện cực kì tốt vượt ra ngoài ranh giới sắc tộc. Điều này đặc biệt đúng cho PAS, đảng vốn đã trở nên ôn hòa một phần là do sự thành công của nó trong việc thu hút các cư tri bên ngoài thành trì bờ biển phía đông của nó – nhiều đến nỗi mà chính phủ đã cố gắng mô tả đảng như không hiệu quả trong việc đại diện cho người Malay lẫn bảo vệ đức tin Hồi giáo chừng nào nó vẫn là một phần của liên minh đối lập đa chủng tộc.

Khi một bên đang thúc đẩy cho một sự quản trị dân chủ hơn, thì bên kia hy vọng duy trì hiện trạng và thậm chí củng cố vị trí của chính phủ đương nhiệm. Những người ủng hộ chế độ tạo thành các nhóm xã hội dân sự theo đuổi chủ nghĩa dân tộc Malay cực đoan của riêng họ, trong đó yêu cầu sự đại diện lớn hơn cho người Malay. Viện đến chủng tộc đã luôn luôn là một yếu tố trong nền chính trị Malaysia, đặc biệt là khi các chính phủ đương nhiệm đang bị thách thức. Sau năm 2008, những người theo chủ nghĩa sô vanh Malay cứng rắn thống nhất dưới một nhóm có tên PERKASA, được dẫn đầu bởi các chính trị gia và các cựu quan chức của UMNO. Sự hấp dẫn của họ dựa trên quan điểm cho rằng người Hoa đã giành được quyền lực vào năm 2008 thông qua chiến thắng của phe đối lập, và điều này đe dọa quyền lực của người Malay ở cả lĩnh vực chính trị lẫn kinh tế.

Mahathir, cựu thủ tướng, người đóng vai trò chính trong việc lật đổ Abdullah, là lãnh đạo tinh thần lớn nhất của PERKASA. Là kiến trúc sư chính của một hệ thống mà ông đã cai trị trong hơn hai thập kỷ, di sản của Mahathir phụ thuộc vào việc hạn chế cải cách. Là một người theo chủ nghĩa quốc gia Malay cực đoan, Mahathir làm dấy lên những lo ngại của người Malay về một mối đe dọa của người Hoa nhằm củng cố quyền lực chính trị của mình và vươn lên vị trí thủ tướng vào năm 1981.9 Quan điểm được ăn cả ngã về không về phương diện sắc tộc này của người Malay đối với người gốc Hoa tiêu biểu cho ý thức hệ của Mahathir. Tuy nhiên, Mahathir cố gắng để giành chiến thắng ở một số cộng đồng không phải Malay, đặc biệt là các sắc tộc Trung Quốc, trong cuộc bầu cử năm 1999, mặc dù có một số sự chia rẽ mạnh trong cộng đồng người Malay. Tuy nhiên, sau tháng 3 năm 2008, đã có một sự hồi sinh của chủ nghĩa dân tộc Malay cực đoan, vốn được cố ý đưa vào trong nền chính trị bầu cử và sử dụng để ngăn chặn các áp lực cải cách.

Để phức tạp hóa vấn đề, các lực lượng ủng hộ chính quyền đã được huy động xung quanh không chỉ sắc tộc mà còn tôn giáo. Mối quan hệ giữa sắc tộc và tôn giáo tại Malaysia là quá mạnh đến nỗi hiến pháp của nước này định nghĩa một người “Malay” là người, ngoài các yêu cầu khác”, thì tuyên xưng tôn giáo Hồi giáo”. Từ những năm 1990 trở đi, nhà nước mở rộng thẩm quyền của mình đối với các vấn đề tôn giáo, do đó làm cho các vấn đề về chính trị Hồi giáo và tự do tôn giáo ngày càng gây tranh cãi khi các phần tử Hồi giáo bảo thủ thúc đẩy các quan điểm ít khoan dung hơn. Vào tháng 3 năm 2008, việc phá hủy các đền thờ Hindu và từ chối không gian cho các cộng đồng phi-Hồi giáo, đặc biệt là người Kitô giáo, góp phần gia tăng sự bất ổn tôn giáo và tình cảm chống chính phủ. Mặc dù chính quyền Najib đã cố gắng để làm chệch hướng các tranh cãi liên quan đến tự do tôn giáo và sự đối xử đối với các niềm tin tôn giáo khác bằng cách ngưng các trường hợp pháp lý liên quan, các nhóm xã hội dân sự và các phần tử Hồi giáo bảo thủ tiếp tục thúc đẩy các mối quan tâm như vậy trong công chúng. Vào đêm trước của cuộc bầu cử, vai trò của hudud (luật quy định các hành vi đạo đức) và kalimah allah (sử dụng từ “Allah” bởi những người không theo Hồi giáo) đã trở thành tâm điểm tranh cãi, khi những người thúc đẩy cho các quan điểm bảo thủ hơn khiêu khích những người có quan điểm tự do hơn .10 BN và những người ủng hộ nó sử dụng những vấn đề này không chỉ để chia rẽ những người Hồi giáo và những người tự do trong phe đối lập, mà cũng để chứng minh với những người theo chủ nghĩa dân tộc Malay cực đoan rằng chính phủ đương nhiệm sẽ bảo vệ đức tin chống lại các lời kêu gọi cho sự tự do tôn giáo của những người phi-Hồi giáo, mà họ sợ có thể làm suy yếu vị trí thống trị của người Mã Lai.

Sân chơi không bình đẳng

Sự kết hợp của một phe đối lập đa chủng tộc mạnh mẽ hơn, một môi trường chính trị cởi mở hơn với một xã hội dân sự đang mở rộng hơn, gay gắt hơn, và tích cực hơn và sự huy động ủng hộ chế độ mạnh mẽ tạo tiền đề cho cuộc cạnh tranh được dự đoán trước vào năm 2013, được mệnh danh là “mẹ của tất cả các cuộc bầu cử”. Mặc dù các cuộc bầu cử là cạnh tranh, chúng đã được tiến hành trên một sân chơi mà đã trở nên ngày càng không công bằng từ năm 2008. Để hiểu được những kết quả của năm 2013, điều quan trọng là phải xem xét các bước phức tạp mà chính phủ đương nhiệm thực hiện để duy trì quyền lực.

Những người đương nhiệm ở khắp mọi nơi tìm cách đưa ra các tiêu chuẩn bầu cử có lợi cho họ. BN không là ngoại lệ, đã lâu tiến hành quá trình phân định mang lại lợi thế cho nó bằng cách tạo ra các quận với tỷ lệ đại diện rất không công bằng và vẽ lại đường ranh giới bầu cử bên ngoài ranh giới hành chính. Các biện pháp này làm loãng số phiếu đô thị và tạo thuận lợi cho các vùng nông thôn xa xôi, phân chia các sắc tộc thiểu số, trong khi đồng thời tăng cường địa vị bầu cử của các cộng đồng người Malay (đặc biệt là ở Đông Malaysia, nơi mà người Mã Lai là một thiểu số), và thêm nhiều ghế trong khu vực an toàn.11 Một ghế từ một đơn vị bầu cử đô thị trung bình thường đại diện cho một dân số lớn hơn bốn lần một đơn vị bầu cử ở nông thôn xa xôi – trong trường hợp cực đoan nhất, tỷ lệ này là 10:1. Ủy ban Bầu cử Malaysia là một cơ quan gồm các quan chức được bổ nhiệm báo cáo trực tiếp cho thủ tướng, và quá trình vẽ ranh giới được thực hiện theo một cách thiếu trách nhiệm chung.

Sân chơi bầu cử năm 2013 tiếp tục bị thao túng bởi các vận đồng đằng sau rèm liên quan đến các vị trí chiến lược và việc đăng ký cử tri: tỷ lệ cử tri được chuyển đổi tùy tiện giữa các đơn vị bầu cử, thậm chí đôi khi phân chia các hộ gia đình, và một số đơn vị bầu cử đặc biệt là đơn vị của các nhà lãnh đạo quốc gia hoặc những người có quan hệ gần gũi chứng kiến một mức tăng kỷ lục các cử tri mới.12 Hơn nữa, bằng chứng được đưa ra trong các buổi điều trần của chính phủ tiết lộ rằng các cơ quan chính phủ đã cấp quốc tịch cho người nước ngoài để thúc đẩy triển vọng bầu cử của BN.13 Cũng đã có các báo cáo về việc người nước ngoài trong cuộc bầu cử nhận được thẻ căn cước để đổi lại họ bỏ phiếu cho chính phủ đương nhiệm.14 Trước các cuộc bầu cử, sự đúng đắn của các danh sách cử tri bị đặt câu hỏi, cũng như quá trình xung quanh việc quản lý của nó. Phe đối lập đã được cho phép dưới hai tuần để xem xét lại bất kỳ tên bổ sung nào và một khoảng thời gian ngắn sau đó để khiếu nại. Mặc dù phe đối lập đã làm, song trên thực tế, sự khiếu nại về tính đúng đắn của danh sách bầu cử diễn ra ở tòa án, song những khiếu nại này thường bị bác bỏ mà không xem xét.15 Phe đối lập chưa bao giờ đưa ra một danh sách bầu cử hoàn chỉnh với tên và địa chỉ của các cử tri, ngay cả trong thời kỳ chiến dịch thực tế.

Trớ trêu thay, chính phủ sử dụng một số cải cách bầu cử nhỏ do áp lực từ Bersih để mang lại lợi thế riêng cho mình. Một sáng kiến liên quan đến việc giới thiệu bầu cử sớm cho nhân viên bầu cử và an ninh, nhân viên truyền thông, và các cử tri ở nước ngoài. Hiệu lực của cuộc bỏ phiếu sớm này – mà trong trường hợp các cơ sở cảnh sát là ba ngày trước ngày bầu cử và trong nhiều trường hợp đếm phiếu mà không có các nhà quan sát đối lập nay – đã bị đặt nghi vẫn, khi mà 89,5 phần trăm ủng hộ chính phủ. Những cuộc bỏ phiếu sớm được nhìn với sự nghi ngờ phần lớn là vì vết mực không thể tẩy được được sử dụng cho các cuộc bầu cử trong thực tế là có thể tẩy được trong nhiều vùng của đất nước. Nhiều người tin rằng điều này cho phép một số cử tri bỏ phiếu hai lần, điều có thể đã góp phần vào việc nâng cao số lượng cử tri đi bầu và dẫn đến chính quyền đương nhiệm thắng cử một cách sít sao.

Những vi phạm khác phá hỏng cuộc tranh cử như: Mất điện xảy ra  trong quá trình kiểm phiếu; các nhân viên bầu cử của phe đối lập không được cung cấp các kết quả được ghi lại; trong một số trường hợp, các kết quả được ghi không phù hợp với các kết quả niêm yết chính thức; có những báo cáo về các lá phiếu và hòm phiếu bí ẩn được tìm thấy; và có những cáo buộc về người nước ngoài đến các điểm bầu cử để bỏ phiếu. Những vấn đề này đặt ra câu hỏi về tính hợp pháp của các kết quả, nhất là trong 32 phần trăm số cuộc tranh cử mà mức chiến thắng là ít hơn 10 phần trăm. Trong khi các cuộc bầu cử trước đó tại Malaysia đã có kinh nghiệm về các báo cáo vi phạm, chúng thường xảy ra ở bang hoặc thậm chí ở các các đơn vị bầu cử. Khoảng thời gian bầu cử, chúng vẫn tràn lan và trên cả nước, khiến nhiều người tin rằng chính quyền đương nhiệm có được chiến thắng nhờ sự kiểm soát của họ đối với cơ quan bầu cử.

Một dạng mới của “nền chính trị tiền bạc” cũng đóng một vai trò quan trọng trong các cuộc bầu cử năm 2013. Khi Najib trở thành thủ tướng năm 2009, ông đã áp dụng một mô hình phân phối lợi ích mới cho người dân, sử dụng ngân quỹ của chính phủ một cách chưa từng có để thu hút sự ủng hộ chính trị. Tính đến thời điểm đó, nền chính trị bảo trợ ở Malaysia theo mô hình chung trong khu vực, theo đó các đảng chính trị (cụ thể là, UMNO chi phối tại Malaysia) phục vụ như là phương tiện mà qua đó để bảo đảm sự ủng hộ. Chẳng hạn, vào năm 1999, Mahathir trao các hợp đồng chính phủ lớn cho các thành viên UMNO như một phương tiện củng cố sự ủng hộ chính trị và huy động các cơ sở chính trị của ông. Mặc dù nền chính trị tiền bạc từ lâu đã là đặc trưng trong hệ thống độc tài cạnh tranh của Malaysia, Najib đã biến đổi các cơ chế này, tiến hành một chiến dịch hiện đại hóa mà chủ yếu dựa vào lợi thế nguồn lực của BN và niềm tin rằng các cử tri có thể được mua như là một phần của một trao đổi thương mại.

Sự đổi mới chính của chiến lược “thương mại hóa” mới này là việc sử dụng các biện pháp dân túy để củng cố sự hỗ trợ trước khi chiến dịch bầu cử chính thức diễn ra. Trong thập kỷ qua, các chính trị gia ở Thái Lan, Indonesia và Malaysia bắt đầu ve vãn cử tri với các chính sách dân túy như chuyển tiền mặt và các khoản trợ cấp. Thaksin Shinawatra của Thái Lan đi tiên phong trong phương pháp này, vốn bắt đầu với việc phân phối các khoản trợ cấp tiền mặt cho các đơn vị bầu cử nông thôn và sau đó được mở rộng cho việc phân bổ trợ cấp nhà ở để củng cố sự ủng hộ tại các khu vực đô thị. Việc sử dụng trực tiếp tiền của chính phủ, trái ngược với việc các quỹ được phân phối thông qua các đảng chính trị, từng bước được phát triển trong nền chính trị khu vực trong một thời gian, khi các hình thức bảo trợ truyền thống của đảng teo tóp lại khi đối mặt với tăng trưởng dân số, hiện đại hóa, và các đảng chính trị yếu. Bắt đầu từ những năm 1990, BN áp dụng việc thực hành “chính sách phát triển” – hứa hẹn các dịch vụ tốt hơn và nhắm vào các dự án phát triển cơ sở hạ tầng do chính phủ tài trợ để đổi lấy phiếu bầu.16

Dưới thời Najib, đã có một sự trở lại với một sự trao đổi thị trường được cá nhân hóa hơn giữa chính phủ và các cử tri thông qua sự chuyển tiền mặt cho cá nhân mang tính chính trị – hay, theo lời của Najib, “Bạn giúp tôi, tôi giúp bạn.”17 Najib đã giới thiệu một loạt các biện pháp dưới tu từ “1 Malaysia” (tự nhận là một sáng kiến kiểu ô dù để thúc đẩy “sự thống nhất quốc gia không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng tôn giáo”18) – trong đó bao gồm phát trực tiếp tiền mặt thông qua các chương trình BR1M, hóa đơn sách giáo khoa, và các gói cho vay nhà ở. Ông nhân đôi những khuyến khích này bằng cách tăng lương cho công chức, bố thí trực tiếp cho các trường học và các nhóm cộng đồng địa phương, và tài trợ cho các NGO liên quan đến 1Malaysia mà sẽ vận động hành lang đại diện cho chính phủ đương nhiệm trước khi các chiến dịch bầu cử thực tế diễn ra. Trong khi các sáng kiến này hướng tới các nhóm dao động cụ thể, bao gồm thanh niên, phụ nữ, công chức, nhìn chung chúng tập trung vào những người Malaysia có thu nhập thấp hơn. Các quỹ cho các sáng kiến dân túy này – tổng cộng khoảng 20 tỷ $ tính từ tháng 4 năm 2009, khi ông Najib nhậm chức, cho tới đầu chiến dịch năm 2013 – phần lớn là quỹ công và được quản lý trực tiếp bởi văn phòng của thủ tướng, mà ngân sách của chúng đã tăng gấp bốn lần so với năm 2009.19

Do văn phòng của Thủ tướng Najib chỉ đạo phân phối quỹ, nên nó giữ được sự kiểm soát chặt chẽ đối với các chiến dịch năm 2013. Bác bỏ phương thức vận động truyền thống thông qua các Đảng của BN, thay vào đó Najib chọn chiến lược “phòng – chiến tranh” với một chiến dịch được quản lý tập trung chủ yếu dựa trên các chuyên gia tư vấn được trả lương cao. Giống như một chiến dịch tổng thống, các nỗ lực này tập trung vào cá nhân Najib và tung ra những khoản tiền lớn cho quảng cáo. BN tràn ngập các phương tiện truyền thông quốc gia và các trang web với các quảng cáo đắt tiền. Không giống như trong năm 2008, khi việc sử dụng khéo léo của phe đối lập với Internet đã mang đến cho nó một lợi thế so với chính phủ đương nhiệm, 20 chiến dịch của Najib tìm cách chi phối một cách cẩn thận và có hệ thống đối với truyền thông xã hội và Internet nói chung. Nó trả cho các blogger và các trang web được tài trợ như TheChoice.com, mà mục đích của chúng là tấn công và làm mất uy tín những tiếng nói khác và tham gia vào công tác tuyên truyền. Phe đối lập tiến hành chiến dịch Internet và truyền thông xã hội của riêng mình, nhưng theo phân tích cuối cùng thì nguồn lực vượt trội của BN đã chiến thắng – nó chi phối nội dung chính trị trong những nguồn chính của các phương tiện truyền thông khác với 49 phần trăm so với 41 phần trăm.21

Khả năng của Najib để huy động có hiệu quả các lợi ích kinh tế gắn liền với chế độ đã giúp tài trợ cho chiến dịch của BN. Trong khi đó, trong cuộc bầu cử trước đó các nhóm khu vực tư nhân đóng một vai trò hậu trường và đóng góp kín đáo để hỗ trợ chính phủ đương nhiệm, thì trong năm 2013 “những người bạn” của chính phủ là các nhà tài trợ chính công khai trong chính các chiến dịch. Để cung cấp bữa ăn bữa tối miễn phí với người ủng hộ nổi tiếng hoặc đưa ra phần thưởng tài chính cho lá phiếu, nguồn lực khu vực tư nhân là công cụ quan trọng trong nỗ lực huy động. Chính phủ đương nhiệm rõ ràng đã đưa ra một tín hiệu cho những người đã được hưởng lợi từ việc tiếp cận cơ hội và các hợp đồng. Từ việc các lợi ích của việc khai thác mỏ và gỗ đến việc đánh bạc và thế giới ngầm, BN kêu gọi sự tài trợ. Kết quả là, các công ty có quan hệ với chính phủ khuyến khích nhân viên của mình bỏ phiếu cho BN, và tiền bạc của ngành tư nhân thúc  đẩy lợi thế về nguồn lực của chính phủ đương nhiệm, làm cho cuộc tổng tuyển cử năm 2013 là chiến dịch tốn kém nhất trong lịch sử quốc gia và việc mua phiếu là một hiện tượng trên toàn quốc.

Quản trị và Nền chính trị sắc tộc

Phe đối lập và chính phủ có hai quan niệm rất khác nhau về tính hợp pháp. BN lựa chọn các nền tảng chung của hệ thống độc tài cạnh tranh – thành tích kinh tế và ổn định chính trị. Thành tích của Najib về kinh tế là vững chắc, đặc biệt là so với người tiền nhiệm của ông, Abdullah Badawi. Với tốc độ tăng trưởng hàng năm trên 5 phần trăm kể từ khi nhận chức, ông Najib được coi như là một nhà quản lý kinh tế có tài. Ông kêu gọi cải cách kinh tế hơn nữa, trong đó có một chương trình chuyển đổi kinh tế. Mặc dù những cải cách được đề xuất là nhỏ và xung đột với chi tiêu thâm hụt cao của Malaysia và các sáng kiến dân túy của Najib, tu từ về cải cách và những lời hứa về cắt giảm ngân sách hơn nữa sau cuộc bầu cử thúc đẩy sự tín nhiệm về kinh tế đối với thủ tướng. Ông tương phản thành tích của mình với thông điệp hỗn độn đến từ phe đối lập, phe mà, mặc dù đã thực hiện tốt quản lý ở cấp bang, song thiếu một chương trình kinh tế vĩ mô rõ ràng.

Najib cũng nhấn mạnh sự khác biệt về ý thức hệ và chính sách giữa chính phủ của ông và phe đối lập. Thủ tướng và liên minh của ông miêu tả phe đối lập nguồn gốc của tình trạng bất ổn xã hội và liên tục gợi ý rằng sự bất ổn có thể xảy ra nếu phe đối lập lên nắm quyền. Chính phe đối lập giúp họ làm điều này – bằng cách công khai mâu thuẫn với chính nó về vấn đề tôn giáo trong chiến dịch và chạy đua với hơn một ứng cử viên liên minh trong một số ít khu vực bầu cử. Các tính toán sai lầm như vậy củng cố nghi ngờ của một số cử tri về khả năng của PR để quản lý tập thể.

Về phần mình, PR coi chính phủ trong sạch là vấn đề chính của mình và tập trung vào tham nhũng tràn lan trong chính phủ đương nhiệm. Kể từ năm 2008, phe đối lập đã phanh phui một loạt các vụ bê bối liên quan đến các khoản tiền rất lớn trong các quỹ bị sử dụng sai và sự lạm dụng quyền lực, và nó kêu gọi cho một sự đại tu thực tiễn độc quyền hiện tại và cho việc giải thoát đất nước của chủ nghĩa thân hữu. Trong khi thông điệp này làm phấn khởi các cử tri đã chán với sự thái quá, thì nó cũng tạo động lực cho những người có quyền lợi (gắn liền với chính phủ) chống lại những cải cách như vậy. Nhưng PR kiên trì với thông điệp của mình và tiếp tục mô tả chính phủ BN là một chính phủ đã nắm quyền lực quá lâu, lạm dụng vị thế của mình vì lợi ích của giới thượng cố cựu. PR lập luận, quản trị tốt sẽ đòi hỏi một sự thay đổi trong chính phủ. Thông điệp này gây được tiếng vang với các cử tri thuộc tầng lớp trung lưu có học, đặc biệt là ở các khu vực đô thị.

PR cố gắng cạnh tranh với chính phủ đương nhiệm để thu hút các cử tri có thu nhập thấp bằng cách tung ra các đề xuất dân túy của riêng mình, chẳng hạn như giảm giá xe và bỏ phí cầu đường. Khả năng thực hiện các sáng kiến này phụ thuộc vào việc giảm bớt các giấy phép và sự độc quyền của các công ty thân hữu liên kết với chính phủ, nhưng cử tri phải vật lộn để hiểu chương trình của phe đối lập và để phân biệt các sáng kiến dân túy của nó với những sáng kiến như vậy của chính phủ. Và tất nhiên, phe đối lập không theo kịp BN về tiền bạc và các nguồn lực lực khác. Vì vậy, cử tri tự hỏi mình làm thế nào phe đối lập sẽ quản lý khác với chính phủ đương nhiệm. Đó là chỉ trong các bang, nơi phe đối lập đã có một thành tích tốt về quản trị – cụ thể là, ở Selangor và Penang – mà nó có thể vượt qua những thông điệp không rõ ràng và mở rộng sự ủng hộ của nó.

Các cuộc bầu cử năm 2013 nhấn mạnh hai quan điểm rất khác nhau về chính trị sắc tộc. Phe đối lập thúc đẩy sự tham gia đầy đủ của tất cả các cộng đồng của đất nước, không phân biệt chủng tộc. Đây là một nền tảng thành công cho phe đối lập vào năm 2008, giành được sự ủng hộ rộng rãi, đặc biệt là trong số các cử tri Malaysia gốc Trung Quốc. Trong năm 2013, số lượng người Hoa bỏ phiểu cho phe đối lập đã vượt số lượng người Malaysia, điều này được Najib gọi là “sóng thần của Trung Quốc”. Điều này phản ánh sự hấp dẫn của thông điệp toàn diện hơn về mặt sắc tộc của phe đối lập. Phần lớn các ghế mới mà phe đối lập giành được trong năm 2013 đến từ sự gia tăng ủng hộ của người Hoa. Kết quả năm 2013 cho thấy rằng BN- từng là một liên minh đa sắc tộc thực sự – giờ đây thiếu các đảng thành phần phi – Bumiputera thực sự. Chiến thắng của BN về cơ bản bao gồm ghế của người Malay, đặc biệt là những ghế giành được bởi UMNO ở Tây Malaysia, và các ghế Bumiputera khác ở Đông Malaysia.

Sự thúc đẩy của phe đối lập cho sự toàn diện phản ánh một nền chính trị sắc tộc mới, mà trong đó bản sắc sắc tộc được thay thế bằng một bản sắc Malaysia liên sắc tộc và tất cả các cộng đồng được đại diện và tôn trọng như nhau. Thông điệp này không chỉ hấp dẫn đối với người không phải Malay, những người cuối cùng cảm thấy được xét đến sau nhiều thập kỷ bị loại trừ, mà còn đối với nhiều cử tri Malay trẻ và thuộc tầng lớp trung lưu. Kết quả là, PR thu hút được sự ủng hộ nhiều hơn từ các sắc tộc và nổi lên trong cuộc chạy đua với tư cách là một liên minh đa sắc tộc hơn.

Najib và BN theo đuổi đường lối ngược lại, chỉ hướng sự chú ý đến người đàn ông đã định hình sự nghiệp chính trị của Najib, đó là Mahathir. Cựu Thủ tướng đã trở thành người vận động hiệu quả nhất của BN. Ông cố gắng huy động các cơ sở UMNO và giảm đấu đá nội bộ bên trong nó, một phần thông qua một lời kêu gọi dân tộc chủ nghĩa. Liên minh cầm quyền coi cuộc bầu cử như một trận chiến để bảo vệ nguyên trạng, đặc biệt là vị trí của người Malay. Khi thông điệp của phe đối lập được truyền đi, các cuộc biểu tình chính trị của nó lớn lên với đám đông lớn gồm người Trung Quốc và vô số các cắc tộc khác. Liên minh cầm quyền sử dụng hình ảnh của các cuộc biểu tình này để thủi bùng cảm xúc của bất an sắc tộc trong cộng đồng người Malay, đặc biệt là trong số những người ở tầng lớp lao động và các khu vực nông thôn với sự tiếp cận hạn chế đến các phương tiện truyền thông khác. Tầm nhìn của Mahathir về nền chính trị sắc tộc như một trò chơi được – mất, đã thổi bùng tinh thân dân tộc cực đoan Malay vốn đã bùng nổ kể từ thành tựu của phe đối lập trong năm 2008.

Sự hiện diện của cựu chính khách trên sân khấu chính trị gợi lên một nỗi nhớ độc tài nhất định. Mục tiêu trước mắt của ông là đưa con trai ông, Mukhriz Mahathir, trở thành bộ trưởng của tiểu bang quê nhà Kedah, nhưng mục tiêu dài hạn của ông là để bảo vệ di sản của mình và giảm bớt các áp lực cải cách mà có thể đe dọa lợi ích của những người đã được hưởng lợi trong nhiệm kỳ của ông. Sự bất an của người Malay và nỗi nhớ độc tài đã chứng tỏ là một sự kết hợp mạnh ở các khu vực trung tâm của Malay, nơi chúng đã giúp ngăn chặn sự mở rộng chính trị của phe đối lập. Các tổn thất đã được nhận thấy rõ nhất bởi PAS, tổ chức giữ nhiều ghế trong khu vực nông thôn đa số là người Malay nơi mà thông điệp dân tộc chủ nghĩa này là hiệu quả nhất, và là nơi PAS không thể đưa ra một thông điệp hiệu quả khác.

Mở rộng sự chia rẽ

Khi các kết quả được kiểm, phe đối lập đã giành được nhiều phiếu nhất nhưng không phải nhiều ghế nhất. Điều này một phần do sự phân bố số ghế thiếu công bằng. Nhìn chung, kích cỡ đơn vị bầu cử cỡ trung bình cho các ghế mà BN chiến thắng (46.510) là thấp hơn 40% so với kích cỡ trung bình cho các ghế mà PR (77.655) chiến thắng 40. Đáng chú ý, các đơn vị bầu cử nhỏ hơn này chủ yếu là ở khu vực nông thôn và vùng khó khăn về kinh tế của Malaysia, được phân chia cẩn thận để củng cố sự ủng hộ cho chính quyền đương nhiệm. Kích thước của đơn vị bầu cử chỉ là một phần của lời giải thích, vì các yếu tố khác như sự chuyển cử tri, vị trí của các cử tri, sự toàn vẹn danh sách bầu cử, và thiên vị cơ quan quản lý bầu cử-định hình kết quả. Những tác động của các khía cạnh khác đối với sự quản lý bầu cử vẫn đang được đánh giá. Tại thời điểm bài báo này viết vào cuối tháng tám năm 2013, một con số kỷ lục về các kiến nghị bầu cử liên quan đến hơn 60 ghế đã được nộp. Hệ thống tư pháp bảo thủ của Malaysia đã bác bỏ hầu hết trên cơ sở chuyên môn trước khi điều trần, chỉ còn lại một số ít được đưa ra xem xét. Bersih đang có kế hoạch tổ chức một “tòa án nhân dân” để xem xét quá trình bầu cử vào tháng chín năm 2013, và điều này có thể sẽ đưa ra ánh sáng tác động của sự chuyển cử tri và những vi phạm bầu cử khác.

Các phân tích hậu bầu cử về hành vi bỏ phiếu thu trên cơ sở các cuộc thăm dò ý kiến, tập trung vào các nhóm, và các kết quả tại các điểm bỏ phiếu chỉ ra ba xu hướng quan trọng.22 Đầu tiên, mô hình bỏ phiếu theo sắc tộc vẫn rất dễ thấy. Cộng đồng người Malay bị chia rẽ, với phần lớn bầu cho chính phủ đương nhiệm, trong khi phần lớn tất cả các cộng đồng sắc tộc khác (trừ Dayak ở Sarawak) đã bỏ phiếu cho phe đối lập. Sự chia rẽ sắc tộc hậu bầu cử đã được đào sâu thêm bất chấp có một sự bỏ phiếu liên sắc tộc lớn hơn bao giờ hết. Những sự chia rẽ hiện tại đã được tăng cường bởi việc coi kết quả bầu cử là một “cơn sóng thần Trung Quốc” và thực tế rằng các đảng chiếm ưu thế ở BN-UMNO và Đảng Bumiputera Truyền thống Thống nhất (PBB), được lãnh đạo bởi Bộ trưởng Taib Mahmud của Sarawak – là các đảng Malay . Sự mất cân bằng này sẽ dẫn đến sự thảo luận lớn hơn về sắc tộc trong tương lai và tạo ra áp lực lên sự đoàn kết của phe đối lập.

Một yếu tố ít rõ ràng hơn nhưng vẫn rất quan trọng trong cuộc bầu cử là giai cấp. Các công dân tầng lớp thấp chiếm phần lớn lực lượng ủng hộ chính phủ. Sự kiểm soát của chính phủ đối với các phương tiện truyền thông chính thống và lợi thế khổng lồ về nguồn lực của nó, cùng với cám dỗ dân túy như chuyển tiền, giúp cho BN để bảo đảm phiếu bầu của bộ phân cử tri ít học, thường ở nông thôn. Phe đối lập giành được sự ủng hộ của các cử tri trung lưu và thượng lưu, không kể những người có quan hệ kinh tế trực tiếp cho chế độ.

Xu hướng thứ ba vào năm 2013 là tầm quan trọng ngày càng tăng của Đông Malaysia trong nền chính trị quốc gia. Chính phủ đương nhiệm sẽ không nắm được quyền lực nếu không có một phần tư số ghế trong Quốc hội mà nó đã giành được ở Sabah và Sarawak, nơi mà chỉ có một phần năm dân số. Phe đối lập đã thất bại để xâm nhập vào các bang này ngoài các đơn vị cử tri người Hoa thành thị, phần lớn là do bộ máy yếu hơn và ít nguồn lực hơn, so với BN trong việc mua phiếu bầu và các đảng phái trong khu vực vốn nắm giữa các cử tri tại các bang này. Đông Malaysia sẽ tiếp tục giữ địa vị chi phối trong nền chính trị quốc gia, với các ông chủ của khu vực như Taib Mahmud của Sarawak (người kiểm soát hiệu quả 25 ghế ở bang của mình) mang lại quyền lực to lớn. Hơn nữa, xu hướng phi tập trung quyền lực, vốn tăng tốc sau năm 2008, có khả năng tiếp tục nếu như các yêu cầu của địa phương được đáp ứng bởi chính phủ.

Cả BN và PR sẽ phải đối mặt với những thách thức đặc biệt. BN, mang về một sự hồi sinh chủ nghĩa dân tộc Malay và thúc đẩy các áp lực dân túy, sẽ thấy khả năng để thực hiện cải cách lớn của nó gặp phải khó khăn nghiêm trọng. Najib sẽ phải cố gắng để duy trì lòng trung thành của giới tinh hoa Đông Malaysia và giữ họ hài lòng với sự lãnh đạo của ông. Trong khi đó, PR, đã bị mất đà của nó trong việc thúc đẩy nền chính trị sắc tộc, và nó sẽ khó để lấy lại thành tựu trước đó, đặc biệt là từ khi chính liên minh đối lập không vượt qua được các cản trở sắc tộc tiềm năng: DAP chủ yếu là người Trung Quốc đã giành 38 ghế, gần gấp đôi số ghế PAS Hồi giáo giành được (21), trong khi PKR của Anwar giành được 30. PR bây giờ phải suy nghĩ về cách thức hoạt động, đặc biệt là khi nó phải đối mặt với một số cuộc xung đột nội bộ về các vấn đề tôn giáo. Nó cũng sẽ phải tái xây dựng thông điệp kinh tế của nó, để các cử tri ở tất cả các giai cấp hiểu hõ, cũng như tìm cách để thu hút tất cả các cử tri tại Đông Malaysia, không chỉ cộng đồng người Hoa.

Mặc dù cuộc bầu cử năm 2013 đã được thúc đẩy chủ yếu bởi các động lực và tác nhân chính trị trong nước, nó cũng cần được hiểu trong bối cảnh toàn cầu và khu vực. Hoa Kỳ là một trong những nước đầu tiên công nhận kết quả của cuộc bầu cử, và mặc dù Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ sau đó nêu rõ sự chấp nhận các kết quả này của nó cùng với các quan ngại về các vi phạm bầu cử, song nó đã thiết sự chấp nhận quốc tế đối với các kết quả, với Australia, Anh và các nước châu Âu khác theo sau.23

Tại sao sự chấp nhận quốc tế đối với chế độ độc tài cạnh tranh của Malaysia ngày càng tăng? Những sự phát triển khu vực và các mối quan tâm địa chiến lược đóng một vai trò quan trọng – cụ thể là, mối quan tâm của phương Tây về sự nổi lên ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực.24 Sự xoay trục của Hoa Kỳ hướng về châu Á dưới chính quyền Obama nhằm tăng cường sự cạnh tranh với Trung Quốc để lôi kéo các đồng minh trong khu vực Đông Nam Á, và Malaysia đang ở trong tình trạng tranh giành quyết liệt. Đất nước này đang phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc về thương mại và đầu tư hơn là vào Hoa Kỳ, tuy nhiên Najib đã liên kết với Hoa Kỳ, biết rằng ông sẽ cần đồng minh quốc tế để quản lý những thách thức trong nước của mình. Najib đã đứng về phía Hoa Kỳ về các vấn đề trong quan hệ thương mại như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương và các vấn đề địa chiến lược khác, với hy vọng rằng đổi lại các cường quốc phương Tây sẽ bỏ qua những vi phạm về các vấn đề dân chủ.

Phương Tây đã cung cấp rất ít sự hỗ trợ cho các lực lượng dân chủ của Malaysia. Tiêu chuẩn kép của Mỹ về dân chủ trong khu vực trở nên rõ ràng trong tháng 7 năm 2013, khi Quốc hội tiến hành phiên điều trần về những vi phạm bầu cử ở Campuchia, trong khi im lặng về vấn đề tương tự ở Malaysia. Tuy nhiên, Campuchia được coi là đã nằm trong quỹ đạo của Trung Quốc, trong khi Malaysia vẫn còn dao động, và do đó Hoa Kỳ đã cố gắng bợ đỡ chính phủ của Najib. Bộ trưởng ngoại giao Mỹ lúc đó Hillary Clinton đã thăm chính thức Malaysia vào năm 2010, và tổng thống Barack Obama dự kiến sẽ có chuyến thăm vào tháng mười năm 2013.

Tầm quan trọng chiến lược của Malaysia vượt xa Trung Quốc và mở rộng đến toàn bộ thế giới Hồi giáo. Chính quyền Najib đã đồng ý giảm bớt quan hệ với Iran và cho phép Hoa Kỳ tiếp cận với thông tin về sáu mươi ngàn người Iran sống ở Malaysia, và nó vẫn tăng cường quan hệ với United Arab Emirates, Saudi Arabia, và các đồng minh truyền thống khác của Mỹ ở Trung Đông. Trong khi đó, Hoa Kỳ đã được miễn cưỡng chấp nhận phe đối lập của Malaysia, có lẽ bởi vì một trong ba đảng chính của PR, PAS, là một tổ chức Hồi giáo-một dấu hiệu cho thấy, đối với Hoa Kỳ, lợi ích địa chính trị quan trọng hơn việc thúc đẩy dân chủ. Kết quả của cuộc tổng tuyển cử năm 2013 sẽ vẫn còn tranh cãi, nhưng với thực tế về hệ thống tư pháp bị kiểm soát về mặt chính trị, những giới hạn đối với kiến nghị bầu cử, và lợi thế về nguồn lực của chính quyền đương nhiệm, chính phủ của BN sẽ nhiều khả năng vẫn nắm giữ quyền lực cho đến cuộc tổng tuyển cử tiếp theo. Tiến trình dân chủ thông qua nền chính trị bầu cử đã bị đình trệ, và sự hoài nghi về sức mạnh của các cuộc bầu cử ngày càng tăng.

Tuy nhiên, cuộc tổng tuyển cử năm 2013 vẫn sẽ để lại một dấu ấn lâu dài đối với Malaysia. Đa số cử tri bỏ phiếu cho sự thay đổi, tuy nhiên kết quả bầu cử vẫn duy trì nguyên hiện trạng. Nếu không hoàn toàn bị làm cho thất vọng với kết quả này, các nhà dân chủ của Malaysia cần tập trung năng lượng của mình vào ba vấn đề trước khi cuộc bầu cử tiếp theo diễn ra: 1) cải cách bầu cử, đặc biệt là quá trình phân định khu vực bầu cử và cơ quan quản lý bầu cử; 2) giành sự hỗ trợ cho các ứng cử viên ủng hộ cải cách bên ngoài các căn cứ sắc tộc và khu vực truyền thống của mình; và 3) giữ vững căn cứ của mình. Về cải cách bầu cử, xã hội dân sự Malaysia từ lâu đã được huy động xung quanh vấn đề này và sẽ không từ bỏ nó. Hơn thế nữa, việc ngày thiếu niềm tin vào quá trình bầu cử ngày càng tăng cuối cùng sẽ buộc chính phủ hoặc thực hiện các cải cách thực sự hoặc đối mặt với sự xa lánh hơn bao giờ của cử tri, đặc biệt là trong tầng lớp thượng lưu và trung lưu.

Việc vượt qua sự chia rẽ đảng phái hiện tại có thể chứng tỏ khó khăn hơn, vì nó đã bị làm sâu sắc thêm trong mỗi cuộc bầu cử tính từ năm 1999. Trong khi phe đối lập giành được 50,9 phần trăm số phiếu phổ thông vào năm 2013, nó chỉ giành được 40 phần trăm số ghế trong quốc hội. Điều này có thể dẫn đến một Quốc hội tranh cãi hơn và sự thao túng thường xuyên hơn đối với sự chia rẽ xã hội để ghi điểm chính trị. Các đường đứt gãy chính trị này sẽ tiếp tục được làm sâu sắc hơn, và cả chính phủ và phe đối lập sẽ phải chiến đầu khó khăn hơn để bám đuổi nhau, điều này có thể thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh hơn. Họ sẽ tập trung vào các cử tri trẻ ở Đông Malaysia và đa số người Malay, các cộng đồng mà đã thể hiện sự dao động chính trị nhất kể từ năm 1999. Tính đảng phái mãnh liệt này sẽ đảm bảo rằng nền chính trị của Malaysia sẽ vẫn cạnh tranh. Chính phủ và phe đối lập đã chuyển sự chú ý của họ tới cuộc tổng tuyển cử tiếp theo (sẽ được tổ chức trước tháng sáu năm 2018), và họ đang tái tập hợp và đánh giá làm thế nào để giành được những người ủng hộ mới.

Tuy nhiên, đồng thời, ngày càng có nhiều người Malaysia xa rời nền chính trị bầu cử chính thức, vốn chi phối bởi các chính trị gia tìm kiếm quyền lực và sự tranh cãi đảng phái. Cuộc tổng tuyển cử khiếm khuyết năm 2013 sẽ phục vụ như là một động lực để mở rộng những nỗ lực và mục tiêu của xã hội dân sự. Ngày nay ít hơn người Malaysia tham gia vào các đảng chính trị; thay vào đó họ đang chuyển hướng sang các  hình thức khác về tham dự chính trị. Một số tổ chức phi chính phủ mà trước đây tập trung vào các vấn đề chính trị quốc gia hiện đang chuyến hướng sang các vấn đề địa phương. Nói cách khác, trung tâm của các nỗ lực mở rộng dân chủ chuyển từ việc thay đổi chính phủ quốc gia đến việc thay đổi cách mọi người dân muốn được cai trị và vai trò của họ trong việc cai trị. Vì vậy, mặc dù cuộc bầu cử năm 2013 có thể cho thấy một bước lùi của dân chủ tại Malaysia hiện nay, song nó đã đặt ra các nền tảng để làm sâu sắc thêm dân chủ trong tương lai.

Ghi chú

  1. James Chin and Wong Chin Huat, “Malaysia’s Electoral Upheaval,” Journal of Democracy20 (July 2009): 71–85.
  2. Merdeka Center for Polling Research, “BN and Pakatan Neck and Neck in Race to Finish Line,” news release, 3 May 2013, available at www.merdeka.org/. 3. Paul D. Anieri, “Electoral Tactics and Autocratization,” Newsletter of the APSA Comparative Democratization Section 11 (June 2013): 1, 3–6, www.ned.org/apsa-cd/ APSA-CDJune-2013.pdf.
  3. William Case, “Malaysia’s General Election in 1999: A Consolidated and High Quality Semi-Democracy,” Asian Studies Review25 (March 2001): 35–55.
  4. For official population statistics, see www.statistics.gov.my/portal/index. php?option=com_content&id=1215.
  5. James Chin and Bridget Welsh, “Transformations and Abdullah Badawi,” in Bridget Welsh and James Chin, eds., Awakening: The Abdullah Badawi Years in Malaysia(Kuala Lumpur: SIRD, 2013), x–xxv. 150 Journal of Democracy
  6. Bridget Welsh, “What’s Keeping Malaysia’s Opposition Together?” Malaysian Insider, 10 October 2012, www.themalaysianinsider.com/sideviews/article/whats-keepingmalaysias-opposition-together-bridget-welsh/.
  7. Bridget Welsh, “Enabling and Empowering Change,” in Welsh and Chin, Awakening, 274–93.
  8. See Mahathir bin Mohamad, The Malay Dilemma(Singapore: Asia Pacific Press, 1970).
  9. Malaysian scholar of Islam [pseud.], “The Fear of PAS and Hudud,” Aliran, 1 May 2013.
  10. Lim Hong Hai, “Electoral Politics in Malaysia: ‘Managing’ Elections in a Plural Society,” in Aurel Croissant, Gabriele Bruns, and Marei John, eds., Electoral Politics in Southeast and East Asia(Singapore: Friedrich Ebert Stiftung, 2002), 101–48.
  11. Bridget Welsh, “Disturbing Questions Surrounding GE13 Polling,” Malaysiakini, 7 May 2013, www.malaysiakini.com/news/229367.
  12. These reports derive from the Royal Commission of Inquiry in Sabah on illegal immigrants. See, for example, “Pakistani Tells Sabah RCI Voted Twice, Name Still on GE13 Electoral Roll,” Malaysian Insider, 27 May 2013, www.themalaysianinsider.com/ malaysia/article/pakistani-tells-sabah-rci-voted-twice-name-still-on-ge13-voter-roll.
  13. Yong Yen Nie, “Foreigners Flown into Malaysia to Vote for BN: Anwar,” Straits Times,3 May 2013.
  14. Chua Sue-Ann, “Klang MP Goes to Court to Force EC to Clean Up Roll,” TheEdgeMalaysia.com,21 February 2013.
  15. Francis Loh Kok Wah and Khoo Boo Teik, Democracy in Malaysia: Discourses and Practices(London: Curzon, 2002)
  16. Joseph Sipalan, “Najib Tells Sibu: You Help Me, I Help You,” Malaysiakini,12 May 2010.
  17. See “1Malaysia Initiatives” at www.1malaysia.com.my/en/my-record/1-malaysia/.
  18. Bridget Welsh, “Buying Support—Najib’s ‘Commercialisation’ of GE13,” Malaysiakini, 23 April 2013.
  19. Larry Diamond, “Liberation Technology,” Journal of Democracy21 (July 2010): 69–83.
  20. Tessa J. Houghton, “‘Watching the Watchdog’: Malaysian Media Coverage of GE13,” Preliminary Results—Release 5: World Press Freedom Day, 5 May 2013, http:// pilihanraya.info/wp-content/uploads/2012/10/WtW.Release.5.pdf.
  1. These analyses are based on fieldwork conducted around the polls and a detailed analysis of the polling-station results that capture voting patterns at the local level. The leading polling organization used is Merdeka Center.
  2. “Malaysia GE13: US Notes Concern About Irregularities,” Straits Times, 8 May 2013.
  3. Benjamin Reilly, “Southeast Asia: In the Shadow of China,” Journal of Democracy 23 (January 2013): 156–64.