Bầu cử Indonesia 2014: Quốc hội và sự bảo trợ

Thông tin chi tiết

Bài báo: “Indonesia’s 2014 Elections –Parliament And Patronage” (Bầu cử Indonesia 2014 – Quốc hội và sự bảo trợ)

Tác giả: Edward Aspinall

Tạp chí: Journal of Democracy, Issue 4, Volume 25

Chuyển ngữ: Minh Anh (Nhóm Tinh Thần Khai Minh)

Hướng dẫn trích nguồn: Edward Aspinall, “Indonesia’s 2014 Elections –Parliament And Patronage” (Bầu cử Indonesia 2014 – Quốc hội và sự bảo trợ, bản dịch của Minh Anh, nhóm Tinh Thần Khai Minh), Journal of Democracy 25 (tháng 10 năm 2014): trang 96 – 110.

Tải về tại đây:

– BẦU CỬ INDONESIA 2014 –

QUỐC HỘI VÀ SỰ BẢO TRỢ

Tác giả: Edward Aspinall

Chuyển ngữ: Minh Anh [Nhóm Tinh Thần Khai Minh]

 

Edward Aspinall là giáo sư chính trị học tại Đại học Quốc gia Úc. Ông là tác giải, biên tập của vô số cuốn sách và bài báo, bao gồm “A Nation in Fragments: Patronage and Neoliberalism in Contemporary Indonesia” trong Critical Asian Studies(2013), và hiện đang tham gia vào một nghiên cứu đa quốc gia về ‘nền chính trị tiền bạc’ ở Đông Nam Á, vốn tạo ra các kết quả nghiên cứu được thảo luận trong tiểu luận này.

 

Các cử tri tại Indonesia, nền dân chủ đông dân nhất thứ ba thế giới, đi đến các địa điểm bầu cử vào ngày 9 tháng 4 năm 2014 để tham gia vào các cuộc bầu cử cơ quan lập pháp trên toàn quốc lần thứ tư của đất nước này kể từ khi nó bắt đầu quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ cách đây 16 năm. Nhìn bề ngoài, các cuộc bầu cử này diễn ra bình thường. Không có những cáo buộc về gian lận hướng vào chính phủ, cũng không có bạo lực lớn. Sự tham gia của cử tri ở mức 75 phần trăm, tăng từ 71 phần trăm của năm 2009. Các kết quả dường như cũng không quá bất thường: Một số đảng lớn đã giành được thêm vài phần trăm, trong khi những đảng khác mất đi vài phần trăm. Hệ thống đảng phái của Indonesia vẫn còn manh mún nhưng ổn định, và có rất ít dấu hiệu của một sự phân cực chính trị mạnh mẽ sẽ xuất hiện trong cuộc bầu cử tổng thống diễn ra chỉ ba tháng sau đó (xem tiểu luận của Marcus Mietzner tr 111-25). Thật vậy, trạng thái bình thường của các cuộc bầu cử dường như là một dấu hiệu của sự vững mạnh của nền dân chủ vẫn còn tương đối mới của Indonesia trong một khu vực chi phối bởi các chế độ độc tài độc đoán và độc tài bầu cử. 2

Tuy nhiên, bên dưới sự đều đặn này, một lỗ hổng lớn từ các đảng phái đang xuất hiện, và nền chính trị bảo trợ và chủ nghĩa cá biệt đang tóm lấy Indonesia ngày một chặt hơn bao giờ hết. Nguồn gốc của “nền chính trị tiền bạc” của đất nước rất phức tạp, và ít nhất là có từ chế độ “Trật tự mới” của tổng thống Suharto (1966-1998), trong đó sự phân phối kiểu bảo trợ giúp ràng buộc các tác nhân chính trị chính vào trung tâm quyền lực. Tuy nhiên, hình thức cụ thể mà kiểu chính trị bảo trợ hiện đang có trong hệ thống đảng phái và hệ thống bầu cử – và vị trí trung tâm ngày càng tăng của nó trong quan hệ giữa cử tri và các đại diện lập pháp được bầu – có thể chủ yếu được truy nguyên tới việc áp dụng vào năm 2009 của Indonesia hình thức danh sách mở của sự đại diện theo tỷ lệ (PR) để bầu chọn quốc hội và các hội đồng khu vực.3

Trong các hệ thống danh sách – mở, các cử tri ở các huyện có nhiều đại biểu có thể bỏ phiếu cho một ứng cử viên cá nhân hoặc cho một đảng. Số lượng ghế mà mỗi đảng giành được trong một huyện tỷ lệ thuận với số phiếu tổng hợp cho đảng và tất cả các ứng cử viên cá nhân của nó trong huyện đó. Tại Indonesia, do có rất nhiều đảng và mỗi huyện có từ ba đến mười ghế trong cơ quan lập pháp quốc gia, nên ngay cả các đảng lớn thường không giành chiến thắng nhiều hơn một hoặc hai ghế trong một huyện – hay hiến khi là ba. Các ứng cử viên (hoặc ứng viên) với tổng số phiếu cá nhân cao nhất trong danh sách đảng thì có ghế của đảng trong huyện. Hệ thống này tạo ra một động lực mạnh mẽ cho các ứng cử viên cá nhân để dành nguồn lực của mình nhằm vận động cho bản thân hơn là cho đảng của họ, và thậm chí để cạnh tranh mạnh mẽ chống lại các ứng cử viên trong đảng của họ.

Trong một chuyến đi đến 18 trong số 34 tỉnh của Indonesia trước cuộc bầu cử tháng 4, các cộng sự nghiên cứu của tôi và tôi liên tục nghe than thở từ các ứng viên. Họ nói, các cử tri đang ngày càng trở nên “thực dụng” hay “mặc cả”, đánh giá các ứng cử viên chủ yếu dựa vào khả năng của họ cung cấp tiền mặt, hàng hóa, hoặc các lợi ích hữu hình khác cho cử tri. Các ứng cử viên phàn nàn rằng bằng cách chuyển các cuộc bầu cử thành các cuộc cạnh tranh giữa các cá nhân hơn là giữa các đảng, danh sách mở đáng bị lên án. Thay vì viện đến bản sắc đảng phái hay vận động cho các chương trình chính sách – các ứng cử viên nay cố gắng để cho thấy – thông qua mua phiếu bầu hay các dự án từ tiền chính phủ và “các hàng hóa khan hiếm” – rằng họ có thể cung cấp cho cử tri và cộng đồng của họ các lợi ích cụ thể. Do đó, các ứng cử viên của cùng một đảng chạy đua với nhau để xây dựng đội ngũ vận động của cá nhân vốn mở rộng thông qua nhiều lớp các nhà môi giới tới cử tri. Sự năng động này đang tạo ra một logic của sự cạnh tranh bầu cử mà bị phân tán đáng kể ở cấp cơ sở.

Các cuộc bầu cử lập cơ quan lập pháp quốc gia của Indonesia là một vấn đề lớn. Vào tháng 4 năm 2014, trong các cuộc đua quan trọng các ứng viên đang chạy đua không chỉ cho 560 ghế trong cơ quan lập pháp quốc gia của Indonesia, Hội đồng đại diện nhân dân (DPR), mà còn cho các vị trí trong Hội đồng đại diện nhân dân khu vực (DPRD) tại 34 tỉnh và 491 huyện.4 Về tổng số, có 19.699 ghế được cạnh tranh. Tất cả diễn ra trong các khu vực bầu cử nhiều đại biểu, mà với cuộc bầu cử DPR một khu vực bầu cử có thể có hơn ba triệu cử tri. Tuy nhiên, các khu vực bầu cử DPRD có thể rất nhỏ, đặc biệt là ở các huyện xa xôi, chỉ với một vài nghìn cử tri.Tất cả các ứng cử viên DPR và DPRD phải được đề cử bởi các đảng chính trị đã đăng ký. Với mười hai đảng ở cấp độ quốc gia có ứng cử viên, cộng với ba đảng địa phương ở tỉnh Aceh, ước tính có 180.000 ứng cử viên cạnh tranh. Các đảng hoặc các liên minh đảng nào mà giành được 25 phần trăm số phiếu quốc gia hoặc 20 phần trăm số ghế ở DPR thì đủ điều kiện để đề cử ứng cử viên cho cuộc bầu cử tổng thống vào ngày 9 tháng 7; các đảng này cuối cùng kết hợp lại thành hai liên minh trong đó lần lượt đề cử Joko Widodo và Prabowo Subianto.

Từ cuộc bầu cử hậu Suharto đầu tiên của Indonesia vào năm 1999, một sự kết hợp của sự cạnh tranh chính trị mở và các đơn vị bầu cử nhiều đại biểu đã tạo ra một bản đồ đảng phái bị phân mảnh. Không đảng nào từng chiến thắng với 50 phần trăm số phiếu phổ thông; Đảng Dân chủ Đấu tranh của Indonesia (PDI-P) giành được nhiều nhất là 34 phần trăm số phiếu vào năm 1999. Kể từ đó, mô hình bầu cử ngày càng trở nên bị phân mảnh. Năm 1999, chỉ có năm đảng giành được hơn 3,5 phần trăm số phiếu (vốn là ngưỡng tối thiểu để đại diện ở quốc hội vào năm 2014, tăng lên từ 2,5 phần trăm vào năm 2009, khi ngưỡng lần đầu tiên được giới thiệu); đến năm 2014, con số đó tăng lên mười. Như là kết quả của việc chia rẽ trong nội bộ đảng, sự xói mòn của các căn cứ ủng hộ truyền thống, và sự cạnh tranh từ những người chơi mới, hầu hết “năm” đảng lớn năm 1999 đã chứng kiến một sự tụt giảm dần dần, lâu dài về tỷ lệ phiếu giành được, mặc dù có hồi phục một chút trong năm nay. Trong khi đó, một hoặc hai đảng mới có quy mô trung bình giành được ghế ở DPR trong các năm 2004, 2009 và 2014. Trong năm 2014, xu hướng phân mảnh được kiểm soát một phần bởi ngưỡng quốc hội cao hơn, và bởi các yêu cầu đăng ký nghiêm ngặt hơn vốn giảm số lượng các đảng nhỏ. Mặc dù vậy, với mười đảng giành được từ 5 đến 9 phần trăm số phiếu trong các cuộc bầu cử tháng 4, và do đó được đại diện trong DPR, sự đại diện đảng phái trong cơ quan lập pháp quốc gia thậm chí đã san ra xa hơn so với những năm trước. Hiện Indonesia có một số lượng lớn các đảng vừa và nhỏ, nhưng không có những đảng thực sự lớn.

Đảng thua cuộc lớn nhất trong năm 2014 là Đảng Dân chủ (PD) của tổng thống sắp mãn nhiệm Susilo Bambang Yudhoyono. PD từng là đảng giành chiến thắng lớn vào năm 2009 với 21 phần trăm số phiếu bầu. Nhưng do không có một ứng cử viên tổng thống mạnh mẽ và đã bị lung lay bởi một loạt các vụ bê bối tham nhũng, PD rơi xuống vị trí thứ tư với chỉ 10,2 phần trăm. Đảng PDI-P, do cựu tổng thống Megawati Sukarnoputri (2001-2004) đứng đầu, tăng từ vị trí thứ ba đến vị trí thứ nhất – lần đầu tiên đầu tiên nó đã giữ vị trí đó từ năm 1999 – với 18,9 phần trăm số phiều. Các kết quả đáng chú ý khác bao gồm một sự thể hiện đáng nể (6,7 phần trăm) của một đảng mới, Đảng Dân chủ Quốc gia (NasDem) của ông trùm truyền thông Surya Paloh, và một chiến dịch được cải thiện hơn nhiều (11,8 phần trăm) của Đảng Phong trào Indonesia Vĩ đại hơn (Gerindra) của  cựu tưỡng lĩnh Prabowo Subianto, tăng 7,3 phần trăm so với năm 2009.

Các đảng có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Như Marcus Mietzner lập luận trong phân tích tuyệt vời gần đây của ông về các đảng phái của Indonesia, sự chia rẽ về bản sắc vẫn đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống đảng. 5 Vì vậy một sự phân chia quan trọng, mặc dù nó không rõ ràng, đó là phân chia các đảng dựa trên bản sắc văn hóa xã hội với các đảng “liên minh”.

Nhóm đầu tiên gồm các đảng dựa trên bản sắc bao gồm một số đảng vốn bắt nguồn từ các cộng đồng Hồi giáo riêng rẽ. Đảng Đánh thức Quốc gia (PKB) dựa trên cộng đồng Hồi giáo “truyền thống” vốn tập trung ở một số vùng nông thôn của đất nước, đặc biệt là ở Đông Java, trong khi Đảng Ủy thác Quốc gia (PAN) bắt nguồn từ tổ chức Muhammadiyah “hiện đại” và đô thị hơn. Cả hai đảng, mặc dù cơ sở xã hội tương ứng của mình, có định hướng đa nguyên. Ở cuối của phổ Hồi giáo hơn là Đảng Công bằng Thịnh vượng (PKS), vốn được thành lập bởi các nhà hoạt động lấy cảm hứng từ phong trào Anhem Hồi giáo, và Đảng Phát triển Thống nhất (PPP), vốn tự gọi mình là “ngôi nhà lớn của cộng đồng Hồi giáo”. Các đảng dựa trên nền tảng Hồi giáo là một nhóm thực hiện khá tốt trong cuộc bầu cử năm 2014, giành được 31,4 phần trăm số phiếu, tăng từ 29 phần trăm của năm 2009.

Ngược lại với các đảng Hồi giáo, PDI-P thể hiện nó như là một đảng “quốc gia” . Nó cũng có một nhóm người ủng hộ truyền thống trong khu vực sinh sống của người Hồi giáo ít mộ đạo và các cộng đồng thiểu số theo Ấn giáo và Kitô giáo. PDI-P đã thúc đẩy một cách liên tục và mạnh mẽ chủ nghĩa đa nguyên và các quyền của người thiểu số trong các cuộc tranh luận về chính sách quốc gia.

Một nhóm thứ hai, rộng lớn, bao gồm các đảng “catchall” không có cở sở mạnh mẽ trong bất kỳ cộng đồng cụ thể nào. Golkar, phương tiện bầu cử cũ của chế độ Trật tự mới của Suharto, là đáng kính nhất trong số này. Được thành lập vào những năm 1960, và luôn là một trong những hai đảng nhận được nhiều phiếu bầu nhất từ năm 1999, Golkar đã luôn định nghĩa sứ mệnh của mình bằng các thuật ngữ phát triển và cố gắng để vượt qua sự chia rẽ tôn giáo và xã hội (trong thực tế, cơ sở xã hội riêng của nó nằm ở giới quan liêu và doanh nhân).

Một kiểu đảng cachall ngày càng quan trọng là “đảng tổng thống” nghĩa là, đảng được tạo ra bởi hoặc cho một nhân vật chính trị lớn (một nhà tài phiệt hay cựu tướng lĩnh) phục vụ các tham vọng của tổng thống. Đảng quan trọng nhất như vậy trong những năm gần đây là PD, phương tiện cá nhân của Yudhoyono từ năm 2004. Hiện giờ, bốn đảng như vậy, chẳng hạn PD, Gerindra của Prabowo, một cựu chỉ huy quân sự, Hanura của Wiranto, và NasDem của Surya Paloh – tất cả đều có đại diện trong DPR. Tổng số phiếu của họ tăng từ 9 phần trăm vào năm 2004 đến 30 phần trăm vào năm 2009, và bây giờ là 34 phần trăm vào năm 2014. Tất cả bốn đảng này được thành lập bởi những người hoặc là cựu thành viên của Golkar hoặc tới từ các nhóm xã hội (như quân đội) có quan hệ với Golkar. Trong thực tế, các nhà lãnh đạo của tất cả các đảng ngoại trừ PD cạnh tranh để trở thành ứng cử viên tổng thống của Golkar vào năm 2004. Do đó, khi nhìn ở một khía cạnh khác, gần một nửa số cử tri trong năm 2014 bỏ phiếu cho Golkar và các đảng kế thừa của nó. Vì bốn đảng này đều phụ thuộc mạnh mẽ vào sự phân phát bảo trợ và các thỏa thuận kiểu cá nhân, triển vọng ngày càng tăng của nó chính là một dấu hiệu của hình dạng đang thay đổi dần dần của hệ thống đảng ở Indonesia.

Các đảng của Indonesia chỉ khác nhau chút ít về các vấn đề chính sách (ngoại trừ, ở một mức độ nào, về vị trí của tôn giáo trong đời sống quốc gia). Việc chia tách điển hình giữa cách tả và cánh hữu vốn là cấu trúc thông thường trong cạnh tranh chính trị ở các nước khác thì không tồn tại (ở Injdonesia). Tất cả các đảng đều theo chủ nghĩa bảo hộ về kinh tế (mặc dù vào năm 2014 Gerindra đặc biệt công kích vào khía cạnh này), và tất cả về cơ bản ủng hộ hệ thống dân chủ hiện hành (mặc dù, một lần nữa, Gerindra là đảng đứng ngoài, với lời kêu gọi của Prabowo cho sự trở lại với Hiến pháp 1945). Kết quả là, không có vấn đề chính sách nào khiến cuộc tranh luận sôi nổi giữa các nhà lãnh đạo đảng trong chiến dịch bầu cử. Việc thiếu sự phân biệt về chương trình một phần là sản phẩm của các “liên minh cầu vồng” quá khổ vốn đã lôi kéo hầu hết các đảng lớn vào trong các nội các hậu Suharto; 6 nó cũng là một kết quả của vai trò mà các ủy ban của DPR đảm nhiệm, nơi mà các cuộc đàm phán làm luật lớn xảy ra và thường liên quan đến sự giao dịch giữa chính phủ và các đảng đối lập.

Nhưng việc thiếu sự phân biệt về chương trình cũng là một dấu hiệu của chính thể theo hướng bảo trợ của Indonesia, trong đó các nghị sĩ quan tâm nhiều vào quá trình lập ngân sách của cơ quan lập pháp hơn vào việc xây dựng pháp luật vì nhu cầu của họ để đạt được quyền tiếp cận vào các chương trình xã hội, các dự án phát triển, và những thứ tương tự để có thể phân phát cho những người ủng hộ họ như một sự bố thí chính trị.

Tất nhiên, điều này không có nghĩa là các đảng không cố gắng để thúc đẩy thương hiệu riêng. Trái lại, vào năm 2014 các đảng lớn chạy đua với các chiến dịch quy mô quốc gia thể hiện ở các chiến lược quảng cáo và truyền thông hấp dẫn. Tuy nhiên, những chiến dịch này tập trung chủ yếu vào việc thúc đẩy hình ảnh đảng hay lãnh đạo của đảng hay ứng cử viên tổng thống của đảng. Ví dụ ở dạng thứ nhất bao gồm quảng cáo truyền hình của PDI-P nhấn mạnh chủ đề đa nguyên và kinh tế quốc gia, và quảng cáo của PKB nhấn mạnh gốc rễ của đảng trong cộng đồng Hồi giáo truyền thống. Gerindra tiến hành chiến dịch tranh cử mạnh mẽ nhất, với các quảng cáo tô vẽ Prabowo và vay mượn rất nhiều từ hình ảnh dân tộc trong thời kì đầu của quá khứ hậu thuộc địa của Indonesia. Với nguồn cảm hứng từ các nhà lãnh đạo dân túy gần đây khác như Hugo Chavez của Venezuela, Prabowo tự giới thiệu mình như một người ngoài (mặc dù là người bên trong tối cao, là cựu con rể của Suharto và một phần của một triều đại chính trị kết hợp kinh doanh) và lên án mạnh mẽ giới tinh hoa chính trị của Indonesia vì sự tham nhũng và thiếu hiệu quả của nó. 7

Từ Các chiến dịch của Đảng đến Các mạng lưới cá nhân

Bất chấp sự vắng mặt của các cuộc tranh luận chính sách quan trọng, các cuộc bầu cử của Indonesia cạnh tranh khốc liệt ở bất cứ cấp bầu cử nào. Mặc dù các chiến dịch truyền thông trên toàn quốc, đôi khi được gọi là “các cuộc chiến tranh không khí”, hiếm khi được phối hợp với hàng ngàn chiến dịch “chiến tranh trên mặt đất” do các ứng viên cá nhân của DPR và DPRD tiến hành, song một chiến dịch truyền thông quốc gia có tiềm năng gia tăng số phiếu bầu của một đảng trong một đơn vị bầu cử, do đó làm tăng cơ hội bầu cử của ứng cử viên từ đảng đó. Chẳng hạn, nhiều ứng cử viên của Gerindra, được hưởng lợi từ sự tràn ngập của các quảng cáo trên truyền hình cho Prabowo và đảng của ông. Tuy nhiên, trong hệ thống danh sách – mở (trong đó một đảng chỉ có thể đạt được nhiều nhất chỉ hai hoặc ba ghế trong một cử đơn vị bầu cử của DPR), giành được một ghế cũng có nghĩa là đang giành nhiều phiếu hơn các đối thủ trong nội bộ đảng của người đó.

Sự tập trung vào số phiếu cá nhân này đã chuyển trọng tâm của các chiến dịch ở cơ sở ra khỏi các đảng phái, các chương trình và hướng tới những phẩm chất cá nhân của các ứng cử viên cá nhân. Như một trong những ứng cử viên của PKS ở Nam Sumatra giải thích, “các cử tri giờ đây không nhìn vào đảng mà vào hình ảnh [của các ứng cử viên cá nhân].” Cảm xúc này được lặp lại ở khắp mọi nơi trong nước bởi các ứng cử viên từ tất cả các đảng. Hơn nữa, sự bắt buộc về mặt cấu trúc này được củng cố bởi một sở thích mạnh mẽ giữa các cử tri cho những người đại diện có một phong thái được ưa chuộng. Phản ứng chống lại sự xa cách và khó tiếp cận của các nghị sĩ trong quá khứ, nhiều cử tri nói rằng họ thích các chính trị gia có thể tương tác dễ dàng với những người bình thường, có thể giao tiếp bằng tiếng địa phương chứ không phải là ngôn ngữ kỹ thuật, sẵn sàng đến thăm họ trong nhà của họ, và không “kiêu ngạo.”

kết quả là, các ứng cử viên đầy tham vọng đã áp dụng kiểu chiến dịch” gặp gỡ người dân”. Thay vì tập trung vào các phương tiện truyền thông hoặc tổ chức các cuộc mít tinh lớn ngoài trời, trong năm 2014 hầu hết các ứng cử viên thực hiện các chương trình rất mệt mỏi, thường kéo dài sáu tháng trở lên, họ tham dự một số cuộc họp nhỏ trong các làng và khu vực thành thị mỗi ngày, thường xuyên cho đến tối khua. Chỉ một vài tá, hoặc nhiều nhất một vài trăm người sẽ tham dự các cuộc họp này, thường bao gồm một bữa ăn nhỏ hoặc đồ ăn nhẹ và có nhiều thời gian cho sự tương tác không chính thức giữa các ứng cử viên và cử tri. Các cuộc họp ở cơ sở như vậy cũng cung cấp cơ hội cho các thành viên cộng đồng xin hoặc nhận các món quà cá nhân hoặc tập thể từ người đại diện tương lai của họ.

Tất nhiên, dựa hoàn toàn vào cách tiếp cận này là một thách thức, nếu không muốn nói là không thể, đối với một số ứng cử viên. Đặc biệt là ở khu vực bầu cử DPR rộng lớn, một người không thể thăm mọi cộng đồng trong huyện, hoặc ít nhất là không đủ thường xuyên để xây dựng các mối quan hệ cá nhân mà các cử tri đánh giá cao. Do đó các ứng cử viên nghiêm túc bổ sung cho những nỗ lực cá nhân của họ với các đội môi giới bỏ phiếu, những người thực hiện nhiều chiến dịch cá nhân trực tiếp nhân danh các ứng cử viên.

Các đội vận động –  thường được gọi là các “đội thành công” (tim Sukses) – có một cấu trúc hình tháp vốn phản ánh nền chính trị bảo trợ và môi giới ở. 8 Những tim suksesare này thường được điều phối bởi một nhóm cốt lõi mà các thành viên của nó làm việc chặt chẽ với các ứng cử viên. Tổ chức (tùy thuộc vào kích thước của khu vực bầu cử) mở rộng thông qua những người điều phối ở huyện, xã, làng, và chố bỏ phiếu, tất cả các cách xuống chỗ các thành viên nằm trong các cộng đồng địa phương. Các đội lớn nhất được tập hợp bởi các ứng cử viên DPR giàu có ba ngàn thành viên trở lên. Các nhà môi giới ở cấp cơ sở chính là chìa khóa. Họ chịu trách nhiệm “tuyển dụng” bất cứ nơi nào từ năm đến năm mươi cử tri mỗi người, thường là những người mà họ có quan hệ gần gũi: các thành viên gia đình, họ hàng, bạn bè, hàng xóm, và vân vân. Những người môi giới này cung cấp thông tin về các ứng cử viên cho cử tri, lập danh sách những người sẵn sàng bỏ phiếu cho ứng cử viên, và sau đó đảm bảo rằng những cá nhân này thực sự tham gia trong ngày bầu cử. Thông thường, những người môi giới cũng cung cấp tiền mặt hoặc hàng hóa để chứng thực thỏa thuận.

Các động cơ của các thành viên tim sukses khá khác nhau, nhưng trong hầu hết các trường hợp họ được thúc đẩy bởi những phần thưởng vật chất. Chỉ những ứng viên giàu nhất mới có thể trả cho người môi giới của họ lương cố định; thông thường các ứng cử viên bao các chi phí cho người môi giới – chi tiền cho nhiên liệu, thức an và đồ uống, tổ chức các cuộc họp, và vân vân – nhưng thường đủ hào phóng để những người môi giới có thể dành một số tiền để bổ sung cho thu nhập bình thường của họ. Ngoài ra, họ thường nhận được một khoản phí để phân phát tiền cho cử tri khi ngày bầu cử gần kề. Một số ứng cử viên còn áp dụng một hệ thống tiền thưởng: các thành viên trong nhóm người vượt quá mục tiêu số phiếu bầu tối thiểu có thể mong nhận được một phần thưởng tiền mặt hoặc quà tặng ở một số dạng. Nhiều thành viên trong nhóm cũng có những mục tiêu dài hạn. Ví dụ, nếu ứng cử viên nào được bầu và đạt được một số lượng đáng kể trong cộng đồng của một người môi giới nào, thì người môi giới có thể hy vọng được hưởng lợi từ các dự án phát triển cấp thôn bản và các chương trình của chính phủ mà những người đại diện mới sẽ cung cấp.

Mô hình huy động cử tri này đã trở nên quá thể chế hoá ở Indonesia đến mức lĩnh vực môi giới bỏ phiếu đang trở nên bán chuyên nghiệp hóa. Hiện nay, có một nhóm nhỏ những người môi giới giàu kinh nghiệm họ có thể bán các dịch vụ của mình cho các đảng phái và ứng cử viên trong các cuộc bầu cử khác nhau. Như một trong những ứng cử viên đầu tiên ở thành phố Medan giải thích, đó là không khó để tìm các thành viên của tim sukses: “Khi bạn là một ứng cử viên, thì họ đến với bạn.”

Các đội này thường được thiết lập hoàn toàn bên ngoài của cấu trúc đảng phái. Vì có nhiều ứng cử viên đến từ một đảng tham gia tranh cử trong một đơn vị cử tri, nên chính bộ máy đảng thường là một nơi tranh đua. Thường thì ứng cử viên nào mạnh nhất trong hệ thống cấp bậc đảng ở địa phương (thông thường, chủ tịch của các chi nhánh địa phương) có thể thống trị các bộ máy của đảng và sử dụng nó để hỗ trợ chợ cho sự  ứng cử của riêng anh ta – biến nó thành một tim Suksesv cá nhân – do đó buộc các ứng cử viên khác phát triển các phương tiện hỗ trợ riêng của mình. Trong các trường hợp khác, các đảng phái địa phương trở nên bị chia rẽ bởi những sự bất đồng, khi các xã hay thôn khác nhau, hay các lãnh đạo đảng và các nhà hoạt động cá nhân, lựa chọn ủng hộ ứng cử viên đối địch. Và đôi khi các nhà hoạt động đảng ở địa phương hành động giống như những người môi giới bỏ phiếu, bán dịch vụ của họ cho bất cứ ứng cử viên nào cung cấp cho họ những phần thưởng tốt nhất – thậm chí ngay cả các ứng cử viên đến từ một đảng đối địch. Do đó, bộ máy đảng không trở nên vô dụng, nhưng thay vào đó bị vượt qua bởi logic của sự môi giới bỏ phiếu và chủ nghĩa cá nhân vốn mang một hệ thống lớn hơn.

Để giành đủ số phiếu cá nhân nhằm đánh bại đối thủ khác từ chính đảng của họ mà không cần sử dùng các nguồn lực không cần thiết, các ứng cử viên tập trung cho chiến dịch của họ: một số chỉ vận động trong các cộng đồng nơi mà đảng của họ có cơ sở mạnh; một số khác nhắm vào các huyện quê nhà. Thông thường, các ứng viên nhắm vào các cử tri bằng cách dựa vào các mạng xã hội hiện có và thu hút các nhà lãnh đạo của họ thông qua thành viên của tim sukses. Ví dụ, các ứng cử viên xây dựng các chiến dịch của họ xung quanh các gia tộc trong phần nào đó của đất nước mà cấu trúc gia tộc rất mạnh, tạo thành các “đội gia đình” (chứ không phải là các “đội thành công”) trong các khu vực như vậy. Ở những nơi khác,các ứng viên cố gắng huy động các cử tri thông qua mạng lưới của các tổ chức cộng đồng như các nhóm cầu nguyện, các câu lạc bộ võ thuật, đoàn thanh niên, và các hợp tác xã nông dân, hay họ kết nạp các nhà lãnh đạo địa phương – cả chính thức và không chính thức- vào đội của họ. Trong thực tế, các ứng cử viên không ngừng tìm kiếm các mạng xã hội chưa hợp tác với các đối thủ. Một ứng cử viên mà chúng tôi gặp ở Trung Java đã cố gắng để giành các fan của nhóm nhạc nổi tiếng của Indonesia, Slank, cũng như những người đồng giới, những người đam mê Vespa, các nhà môi trường, và các thành viên của một phong trào không tuân phục ở địa phương gọi là Saminists. Tại Indonesia, gần như bất kỳ mạng lưới xã hội nào cũng có thể bị khai thác cho mục đích bầu cử.

Một chính thể bảo trợ

Trong khi một tim Sukses cung cấp bộ xương của chiến dịch, sự bảo trợ cung cấp thịt cho chiến dịch. Hầu hết các ứng cử viên tin tưởng mạnh mẽ rằng hệ thống danh sách – mở đã thay đổi cách mà cử tri nhìn đại diện dân cử của họ. Trong mắt họ, các cử tri tỏ ra ít quan tâm đến các chương trình của đảng hay các vấn đề chính sách quốc gia, và thay vào đó tập trung vào lợi ích cụ thể cho cộng đồng của họ hoặc cho chính họ. Thật vậy, các ứng cử viên thường phàn nàn rằng các cử tri sẽ yêu cầu họ thẳng thừng bằng tiền mặt hoặc quà tặng. Phần lớn các ứng cử viên đáp ứng phù hợp, và dựa vào sự bảo trợ như bộ phận trung tâm trong chiến lược chiến dịch của họ.

Phần lớn các dạng tiêu chuẩn của chiến dịch được mô tả trên phải được hiểu trong bối cảnh của sự trao đổi bảo trợ mà nó gắn chặt với. Ví dụ, các cuộc họp quy mô nhỏ mang các ứng cử viên lại với các thành viên cộng đồng thường là những cơ hội để thảo luận hoặc tạo ra một số dạng thỏa thuận. Tại một số cuộc họp như vậy, cá nhân tôi đã chứng kiến những người tham dự cách công khai yêu cầu các ứng cử viên quyên góp cho một nhóm cộng đồng địa phương hoặc cảnh báo họ, khá thô lỗ, rằng các ứng cử viên khác đang cung cấp tiền mặt cho người dân và họ nên làm như vậy.

Tương tự như vậy, các cử tri đánh giá cao mối quan hệ trực tiếp với người đại diện của họ, mà sau này có thể mang lại lợi ích cho cử tri nếu họ cần sự giúp đỡ để tiếp cận các dịch vụ của chính phủ. Trong khi, cấu trúc đội – thành công phổ biến rộng rãi bởi vì nó cung cấp các phương tiện hiệu quả nhất cho các ứng cử viên để cung cấp các món quà bằng tiền mặt và hàng hóa cho các cử tri trong khi đảm bảo nhiều phiếu bầu nhất có thể. Với mục đích này, tim sukses lập danh sách cử tri và liên tục kiểm tra ý định bỏ phiếu của họ để các ứng cử viên không lãng phí tiền bạc vào một ai đó muốn bầu cho một ứng cử viên khác.

 

Sự đa dạng của sự bảo trợ

Sự đa dạng của sự bảo trợ mà chúng tôi gặp phải trong quá trình bầu cử là không thể tin được. Dạng đầu tiên (và phổ biến) là quà tặng tập thể. Đôi khi chúng mang hình thức đóng góp cho câu lạc bộ, tổ chức – ví dụ, dao kéo, đĩa, ghế nhựa cho nhóm tiết kiệm – cộng đồng của phụ nữ; đồng phục và trang thiết bị cho một câu lạc bộ thể thao thôn; bạt, thảm, và một hệ thống âm thanh hoặc một máy phát điện cho một nhóm đọc kinh Koran; phân bón, cây giống, máy kéo tay, hoặc gia súc cho hợp tác xã; và vân vân. Các quà tặng tập thể lớn hơn bao gồm các khoản đóng góp bằng tiền mặt hoặc hiện vật đối với việc xây dựng hoặc cải tạo một nhà thờ Hồi giáo, nhà thờ, hoặc các nhà thờ cúng khác; hoặc giúp đỡ trong việc xây dựng đường xá, kênh thoát nước, cầu, lĩnh vực thể thao, hội trường làng, hoặc một số cơ sở khác trong cộng đồng; hoặc có thể kết nối cộng đồng với lưới điện, cung cấp chiếu sáng công cộng, hoặc giúp việc với một số dự án công cộng khác. Một số ứng cử viên còn cung cấp xe cứu thương, xe tang, xe cứu hỏa, hoặc xe rác thải và các dịch vụ khác cho các cộng đồng.

Nhóm thứ hai bao gồm các món quà nhỏ “xã giao” mà các ứng cử viên hoặc những người môi giới cung cấp cho các cử tri cá nhân khi họ gặp lần đầu tiên – những kỷ vật (vòng chìa khóa, lịch, hoặc T-shirt) mang logo đảng và hình ảnh của ứng cử viên, hoặc các vật mà gợi lên một số loại dạng tình cảm hoặc ý nghĩa tôn giáo (khăn trùm đầu, thảm cầu nguyện, áo cầu nguyện, sách cầu nguyện, kinh Korans, hoặc kinh Thánh). Các thực phẩm cơ bản và các mặt hàng gia dụng (gạo, dầu ăn, đường, gói mì, cà phê, bột giặt, dầu gội) cũng rất phổ biến, mặc dù chúng có xu hướng được phân phát bởi các thành viên đội hơn là ứng cử viên mình. “Giải thưởng Door” tại các sự kiện chiến dịch cộng đồng nào đó có thể từ một lượng nhỏ tiền mặt và đồ gia dụng đến những món quà lớn như xe máy hoặc các cuộc hành hương đến thánh địa Mecca.

Một nhóm thứ ba, mặc dù trong thực tế rất khó để phân biệt, là mua phiếu – phân phát tiền mặt cho cử tri cá nhân như một động lực để bỏ phiếu cho một ứng cử viên cụ thể. Những quà tặng bằng tiền mặt thường được thực hiện trong tuần cuối cùng trước cuộc bầu cử, và đôi khi vào buổi sáng của cuộc bầu cử – do đó việc thực tiễn này được biết đến ở Indonesia sự “tấn công vào lúc bình minh” hay serangan fajar. Số lượng thay đổi, từ ít nhất là 3 $  cho một “gói” với ba ứng cử viên ở cấp độ huyện, tỉnh và quốc gia trong các khu vực ở Trung Java đến gấp mười lần cho các khu vực giàu tài nguyên như Sumatra hay Kalimantan. (Các gói này là sản phẩm không phải của bộ máy đảng nhưng là các giao dịch đã đạt được giữa các ứng cử viên cá nhân, các thỏa thuận thường được gọi là “tandems.”) Khi các ứng của viên cá nhân làm việc cho chính họ, giá có thể dao động từ ít nhất là 1 $ (đối với ứng viên DPR ở vùng nông thôn Java) đến 15 $ (cho các ứng cử viên DPRD trong các khu vực tài nguyên phong phú của các hòn đảo bên ngoài). Không phải tất cả các ứng cử viên tham gia vào thực tiễn này, nhưng nó phổ biến ở một số nơi, và một số lượng rất lớn của các hoạt động – và tài chính của tổ chức – đã được dành cho việc đảm bảo rằng nó diễn ra êm thuận.

Từ chuỗi tạp nham của quà tặng và hối lộ, một số mô hình có thể được thấy rõ. Một số ứng viên thấy không có vấn đề với các quà tặng và vật lưu niệm mà họ đưa ra cho cử tri tại các sự kiện công cộng hoặc các cuộc họp đầu tiên. Họ xem các kỉ vậy như vậy là một phần của nền văn hóa công cộng dựa trên quà cáp của Indonesia, nhưng xem cuộc “tấn công lúc bình minh” là vượt quá ranh giới. Nhiều người cũng đưa ra một sự phân biệt giữa tặng quà cho cử tri cá nhân và việc cung cấp hàng hóa khan hiếm vốn đề nghị một lợi ích tập thể. Một số ứng viên bác bỏ cái trước, xem nó như là một hình thức “chính trị tiền bạc” không thể chấp nhận được về mặt đạo đức, trong khi xem cái sau như một hình thức phát triển cộng đồng hoặc thậm chí như là một sự bố thí được chấp nhận về mặt tôn giáo. Do đó, một số ứng cử viên lên tiếng mạnh mẽ chống lại tham nhũng vẫn sẽ tham gia vào các hình thức tặng quà.

Mỗi chiến lược đi kèm với rủi ro. Ví dụ, các ứng cử viên cung cấp hàng hóa khan hiếm cho các ngôi làng và các cộng đồng khác, thường thông qua sự trung gian của các nhà lãnh đạo cộng đồng địa phương, có thể phải chi một khoản tiền đáng kể, đặc biệt là nếu họ đang gây quỹ cho các danh mục đắt tiền như đường giao thông, cầu. Trừ khi các nhà lãnh đạo cộng đồng đặc biệt có ảnh hưởng, có một nguy cơ rất lớn là các cử tri trong cộng đồng sẽ không bỏ phiếu để đổi lấy lợi ích. Thay vào đó họ có thể chọn để bỏ phiếu cho một ứng cử viên đối thủ người đã cho họ bằng tiền mặt hoặc các hàng hoá khác một cách trực tiếp. Một ứng cử viên mà tôi đã gặp ở miền Trung Kalimantan nói với tôi rằng trong năm 2009, ông đã đạt được chỉ có 20 phần trăm số phiếu ông đã hy vọng đạt được từ những loại quà tặng tập thể này, trong khi các khoản chi tiền mặt cho cá nhân mang lại “tỷ lệ thành công” khoảng 50 phần trăm. Không ngạc nhiên, vào năm 2014 ông đã lựa chọn chiến lược thứ hai. Theo quan điểm của ông, tặng quà tập thể là thích hợp nhất cho các ứng viên mới những người không được biết đến ở cấp thôn bản và cần phải giới thiệu bản thân mình với cử tri ở đó. Thật vậy, các phương tiện truyền thông Indonesia phát một số câu chuyện về các ứng cử viên không thành công cố gắng để lấy lại quà tặng tập thể ngay lập tức sau cuộc bầu cử – ví dụ, đào ra các đường ống nước mà họ đã lắp đặt.

Tuy nhiên, một số ứng cử viên thấy sự trợ giúp tập thể là một cách hiệu quả để đảm bảo sự trung thành của cử tri – nhưng chỉ nếu sự hỗ trợ này đến từ một nguồn ổn định và không chỉ là một sự quyên góp một lần, vốn có xu hướng không được chú ý. Đặc biệt, người đương nhiệm có thể tận dụng việc tiếp cận của họ với ngân sách nhà nước thông qua vị trí của họ ở các ủy ban của DPR và DPRD để cung cấp cho các dự án cơ sở hạ tầng làng xã, tài trợ doanh nghiệp nhỏ, quỹ cho các tổ chức tôn giáo, các gói hỗ trợ cho các hợp tác xã, và vân vân. Các nhà lập pháp thận trọng có thể dựa trên một sự hỗ trợ như vậy để thiết lập một bộ máy chính trị cá nhân đáng gờm với nhân viên là các thành viên của các nhóm lợi ích, dĩ nhiên là họ hy vọng sẽ được hưởng lợi nhiều hơn trong tương lai. Một số tỉnh, huyện được tạo điều kiện để thể chế hóa dạng chính trị bảo trợ này bằng cách phân bổ cho các nhà lập pháp một ngân sách hàng năm cho các dự án quy mô nhỏ ở khu vực bầu cử của họ. Được biết đến ở Indonesia như là “quỹ khát vọng”, các quỹ phát triển – bầu cử này có lẽ là một dấu hiệu cho thấy sự đa dạng của nền chính trị bảo trợ vốn hiện chiếm ưu thế ở Indonesia sẽ có một ngày được thay thế bằng sự chi tiêu tiền chính phủ được thể chế hóa hơn.

Việc mua phiếu – Lợi ích và rủi ro

Việc mua phiếu cá nhân cũng nguy hiểm, nhưng nhiều ứng viên nhấn mạnh rằng đó là cách duy nhất để bảo đảm số phiếu. Thay vì đưa ra tiền mặt bừa bãi, các ứng cử viên có các thành viên tim sukses cung cấp tiền cho cử tri cá nhân trong danh sách mục tiêu của họ. Tất nhiên luôn luôn có khả năng rằng một ứng cử viên sử dụng chiến lược này sẽ bị thua một đối thủ vốn đề nghị một khoản tiền lớn hơn hoặc phân phối tiền mặt vào phút cuối cùng; nhiều ứng viên cho rằng cử tri sẽ hỗ trợ các chính trị gia cuối cùng mang lại cho họ tiền và do đó tưới vào trong bộ nhớ của họ khi họ bỏ phiếu. Trong năm 2014, điều này có nghĩa là ở một số nơi đã có một cuộc chiến đấu đấu đá trong 24 giờ cuối cùng trước cuộc bầu cử, với các ứng cử viên cố gắng để xác định “giá thị trường” (một số sử dụng đúng thuật ngữ này) cho một phiếu và đề nghị nhiều hơn một chút; trong một vài trường hợp, các nhà môi giới miễn cưỡng trả lại tiền mặt cho các ứng viên của họ, nói với họ rằng số tiền họ đã cung cấp quá thấp để bảo đảm phiếu bầu.

Mua phiếu bầu cũng đặt ra những thách thức tổ chức lớn. Các ững viên chờ đợi cho đến phút cuối cùng có thể gặp phải những khó khăn về hậu cần trong việc phân phát tiền mặt. Tuy nhiên, cấp thiết hơn là các vấn đề về lòng trung thành của những người môi giới: Các ứng cử viên thường bị lừa bởi các thành viên nhóm – thành công của chính họ, những người bỏ túi nhiều tiền mà đáng ra phải trao cho cử tri. Và trong một số khu vực đặc biêt của Java, chúng tôi nhận thấy nhiều trường hợp người môi giới ở cấp cộng đồng làm việc đồng thời cho nhiều hơn một ứng cử viên. Do đó, ứng của viên cần đầu tư rất nhiều vào đội của họ và đưa ra các quy trình giám sát nội bộ để đảm bảo rằng tiền và quà tặng thực sự đến với cử tri. 9 Mặc dù vậy, hầu hết các ứng cử viên đều đồng ý rằng chỉ một phần của cử tri đã được nhận quà và tiền mặt thực sự sẽ bỏ phiếu. Các ứng cử viên thường sử dụng thuật ngữ tiếng Anh “lỗi biên” để giải thích sự lãng phí; nói chung, tỷ lệ thành công khoảng 50 đến 60 phần trăm được coi là một thành công, nhưng họ thường đạt được con số thấp hơn nhiều.

Một cách để giải quyết sự không đáng tin cậy của các nhà môi giới và cử tri là mua phiếu sau cuộc bầu cử bằng cách hối lộ các quan chức của ủy ban bầu cử để điều khiển quá trình kiểm phiếu. Trong các cuộc bầu cử lập pháp năm 2014, không có bằng chứng của sự gian lận chỉ đạo từ trung ương (ngoại trừ có lẽ ở tỉnh Aceh). Tuy nhiên, gian lận vẫn còn phổ biến. Trong những tuần sau khi cuộc bầu cử, có nhiều báo cáo truyền thông về các trường hợp gian lận hoặc cố gian lận liên quan đến các quan chức của ủy ban bầu cử địa phương (thông thường tại các gian bỏ phiếu cá nhân, nơi mà phiếu được kiểm đầu tiên, hay tại ủy ban thôn hoặc xã, nơi mà nó được kiểm đầu tiên). Thủ phạm chủ yếu là các ứng cử viên cá nhân cố gắng để tăng số phiếu của họ, với nhiều các thao túng loại bỏ các đối thủ cạnh tranh trong cùng một đảng. Điều này một phần là vì có các giám sát viên quan sát việc đếm phiếu tại mỗi thùng, khiến cho khá dễ dàng để phát hiện những nỗ lực để tăng số phiếu cho một đảng so với đảng khác. Nhưng các giám sát viên này ít quan tâm đến tổng số phiếu bầu cho ứng cử viên cá nhân thuộc về đảng đối thủ. Do đó, một ứng cử viên có thể ăn cắp (hoặc mua) phiếu từ các ứng cử viên khác trong cùng một đảng bằng cách trả giá cho các giám sát viên của đảng kia và sau đó hối lộ các quan chức bầu cử. Do đó, hệ thống danh sách mở không chỉ khuyến khích các hình thức chính trị bảo trợ mô tả ở trên, nhưng cũng đã tạo ra một mô hình đặc biệt của gian lận bầu cử phân mảnh và phi tập trung.

Tất cả điều này không phải để nói rằng các cuộc bầu cử cơ quan lập pháp năm 2014 là kiểu nền chính trị bảo trợ cá nhân và không còn gì khác. Các chiến dịch đảng ở cấp quốc gia và các ứng cử viên tổng thống cũng đóng một vai trò, ngay cả khi hầu hết các ứng cử viên cho cơ quan lập pháp thấy điều này là thứ yếu đối với những nỗ lực riêng của họ. Các ứng cử viên cũng sử dụng nhiều phương pháp để xây dựng quan hệ cá nhân với cử tri mà không liên quan đến bảo trợ. 10 Mặc dù vậy, đối với đa số các ứng cử viên được phỏng vấn trong nghiên cứu này, sự bảo trợ là thành phần quan trọng. Một số cho rằng, phân phối tiền, hàng hóa là một phương tiện mà làm cho cử tri xem xét họ một cách nghiêm túc, nhưng mà cử tri cũng xem xét các yếu tố khác khi bỏ phiếu. Các ứng cử viên khác thừa nhận rằng sự bảo trợ là yếu tố then chốt trong thành công của họ. Và một số đầu tư khá nhiều tiền vào việc mua phiếu và hối lộ, nhưng vẫn không được bầu. Đáng chú ý, nhiều ứng cử viên năm nay lên án công khai hệ thống danh sách mở và chỉ trích những gì họ thấy là ảnh hưởng tai hại đối với sự gắn kết đảng, nền chính trị cương lĩnh, và các mối quan hệ giữa cử tri và đại biểu dân cử của họ. Sau cuộc bầu cử, nhiều ứng cử viên và các nhà bình luận công khai than phiền rằng nền chính trị tiền bạc đã biến cuộc bầu cử năm 2014 thành phương thức mà, theo lời của một lãnh đạo Hồi giáo, “tư bản chủ nghĩa, ăn thịt đồng loại, và tham nhũng.” 11

Hệ thống danh sách – mở không thể chịu mọi trách nhiệm cho việc tiêm nhiễm “chính trị tiền bạc” vào trong cuộc bầu cử của  Indonesia. Vào giữa những năm 2000, trước khi giới thiệu hệ thống danh sách – mở PR, thì đã rõ ràng rằng các chiến dịch bầu cử, cơ quan lập pháp, và các vị trí dân cử khác là những chỗ cực kì tham nhũng. Hối lộ lan tràn trong các cuộc bầu cử người đứng đầu chính quyền địa phương bởi cơ quan lập pháp địa phương; các bộ trưởng chính phủ và các chính trị gia khác vắt sữa giới quan liêu nhà nước để tài trợ cho các bộ máy đảng; và hối lộ và mua phiếu bầu là phổ biến trong các cuộc bầu cử nội bộ của các đảng chính trị ‘và trong việc lựa chọn các ứng viên lập pháp. Điều này cũng đúng trước khi áp dụng hệ thống danh sách – mở một cách hoàn chỉnh cho các cuộc bầu cử cơ quan lập pháp vào năm 2009, và cũng như trước khi giới thiệu vào năm 2005 một cuộc cải cách khác mà thúc đẩy việc bỏ phiếu cá nhân và cũng được thừa nhận rộng rãi là nguyên nhân thúc đẩy việc mua bán phiếu bầu – sự bầu cử trực tiếp người đứng đầu chính phủ địa phương (trước năm 2005, họ được lựa chọn bởi cơ quan lập pháp địa phương). Tuy nhiên, phạm vi của tham nhũng chính trị trong giai đoạn trước đây thì hẹp hơn. Mặc dù tiền bạc và bảo trợ có vai trò rất quan trọng trong cuộc các bầu cử năm 2004, nhưng “chúng đã đóng một vai trò lớn hơn trong các đảng phái chính trị, hơn là như cơ chế ràng buộc chính cử tri bình thường vào đảng”. 12 Điều này không còn đúng nữa.

Vào giữa những năm 2000, các nhà cải cách kêu gọi áp dụng một hệ thống danh sách -mở nhằm để khắc phục nền “chính trị tiền bạc.” Họ cho rằng, danh sách đóng có nghĩa là những người đại diện dân cử thực sự chỉ chịu trách nhiệm đối với các lãnh đạo đảng hơn là với cử tri, và hệ thống này khuyến khích sự thông đồng và tham nhũng vốn là kẻ thù của dân chủ. Một vài tháng trước cuộc bầu cử năm 2009, Tòa án Hiến pháp đã quyết định chuyển sang hệ thống danh sách mở hoàn toàn. Mặc dù nhiều nhà hoạt động chống tham nhũng và các nhà tự do khác, những người đã chỉ trích các đảng phải hoan nghênh quyết định này, hệ thống danh sách mở đã dạy một bài học bổ ích về những tác động ngoài ý muốn của việc cải cách bầu cử (dù rất nhiều hậu quả dễ dàng được dự đoán bởi các chuyên gia về hệ thống – bầu cử) .

Trong số các hậu quả tiêu cực đối với nền dân chủ của Indonesia, có một số nổi bật. Đầu tiên, danh sách mở đã mở rộng phạm vi của nền chính trị tiền bạc. Mặc dù các hình thức khác của tham nhũng chính trị đã không biến mất, sự bảo trợ nay đã trở thành một cơ chế chính ràng buộc cử tri vào các ứng viên. Nhìn nhận một cách tích cực, sự thay đổi này đã dân chủ hóa tham nhũng phần nào, vì nhiều người dân Indonesia xem thời gian bầu cử là một cơ hội quý để bổ sung thu nhập của họ với hối lộ bầu cử và phí môi giới. Các tác động tiêu cực, bao gồm cả sự lan truyền và sự thể chế hóa hơn nữa của một nền văn hóa của tham nhũng, là hiển nhiên.

Thứ hai, việc khuyến khích sự bỏ phiếu cho cá nhân đã làm trầm trọng hơn sự gây quỹ bắt buộc đối với các ứng cử viên cá nhân và các nhà lập pháp. Nhiều ứng cử viên chiến thắng bằng cách như vậy đã tích lũy các khoản nợ cá nhân lớn. Nhiều người phải thanh toán các khoản nợ bằng cách tham nhũng, hoặc bằng cách tìm kiếm tài trợ từ các doanh nhân mà sau đó họ phải trả lại ân huệ. Kết quả là, hệ thống bầu cử đã tăng cường tham nhũng điều mà hầu hết các nhà quan sát đồng ý là đang đặt ra các mối đe dọa lâu dài lớn nhất đối với nền dân chủ của Indonesia, khiến cho toàn bộ hệ thống dễ bị tổn thương với các thách thức độc tài-dân túy như thách thức của Prabowo.

Thứ ba, bằng cách cung cấp cho các nhà lập pháp một động lực để phát triển sự bỏ phiếu cho cá nhân, hệ thống danh sách – mở đã chuyển sự chú ý của họ ra khỏi nhiệm vụ quan trọng quốc gia, nhưng không được khích lệ, của việc phát triển chính sách. Do đó một số thành viên DPR những người mất ghế của mình trong cuộc bầu cử năm 2014 là nằm trong số những người tích cực nhất trong các cuộc tranh luận chính sách quốc gia. Một số những người sống sót bây giờ thể hiện mong muốn loại bỏ các ủy ban DPR vốn không mang lại các phương tiện để cung cấp sự bảo trợ với cử tri (chẳng hạn, ủy ban quan hệ đối ngoại) để tham gia vào các ủy ban khác (chẳng hạn như cơ sở hạ tầng và nông nghiệp) vốn cung cấp điều đó.

Cuối cùng, danh sách mở cũng đặt ra một mối đe dọa lâu dài cho sự gắn kết của hệ thống đảng. Danh sách mở không chỉ tăng cường sự cạnh tranh trong đảng, nó còn nâng tầm quan trọng của các mạng lưới cá nhân so với bộ máy đảng. Kết quả là, sự khác biệt giữa các đảng đã bị xói mòn đáng kể, mà chỉ còn lại một số do bắt nguồn từ các cộng đồng văn hóa riêng biệt. Chắc chắn, ở cấp cơ sở các ứng cử viên từ các đảng khác nhau và cách tiếp cận của họ đang ngày càng trở nên không thể phân biệt; ứng cử viên thường hầu như không đề cập đến đảng của họ khi giải thích các chiến lược bầu cử của họ. Sự phân cực chính trị kịch tính vốn xảy ra sau các cuộc bầu cử lập pháp trong suốt thời gian chạy đua cho đến cuộc bầu cử tổng thống tháng 7 cho thấy rằng sự rút lui khỏi nền chính trị đảng phái này không bắt nguồn từ các đặc điểm sâu sa của xã hội Indonesia, nhưng là một sản phẩm của hệ thống bầu cử.

Một công thức vụng về

Trong quá khứ, người ta cho rằng bản chất toàn diện của sự chuyển dịch dân chủ ở Indonesia – trong đó tất cả những người chơi chính, bao gồm những người chơi phủ quyết tiềm năng, được trao cho một mảnh quyền lực chính trị –  đóng một phần quan trọng trong bản chất tương đối yên bình và thành công của quá trình chuyển đổi, ngay cả khi công thức này cũng đề ra các chi phí như sự suy giảm của nền chính trị cương lĩnh và sự lan rộng của sự bảo trợ và tham nhũng. 13 Việc áp dụng PR là một thành phần quan trọng của công thức này,với danh sách mở dùng mang thống đó đến mức độ xa nhất về mặt lô gic của nó. Bản chất phân cực của chiến dịch tranh cử tổng thống, vốn bắt đầu ngay sau các cuộc bầu cử cơ quan lập pháp và đã đến rất gần tới mức đe dọa hệ thống dân chủ của Indonesia, cho thấy công thức này không còn có thể dựa vào để ngăn chặn cuộc xung đột chính trị. Thách thức của Prabowo đối với nền dân chủ của Indonesia ít nhất một phần là một sản phẩm của bản chất của giải pháp chính trị này: sự lên án mạnh mẽ tham nhũng và sự lừa dối của nền chính trị quan chức là trung tâm của chiến dịch của ông.

Do đó các cải cách xã hơn nữa rõ ràng là cần thiết. Kể từ cuộc bầu cử dân chủ hậu Suharto đầu tiên vào năm 1999, Indonesia đã liên tục sửa đổi và điều chỉnh hệ thống bầu cử của mình – nhiều đến mức mà một số nhà quan sát cho rằng hệ thống hiện nay nên được trao một cơ hội trước khi đất nước thực hiện bất kỳ cải cách mới nào. Tuy nhiên, với sự lan rộng của chính trị tiền bạc trong cuộc bầu cử lập pháp năm, hệ thống danh sách mở phải được xem như là một cuộc thí nghiệm thất bại. Indonesia cần phải suy nghĩ nghiêm túc hơn về các hệ thống mà có thể khuyến khích nền chính trị cương lĩnh và sẽ củng cố hơn thay vì làm suy yếu hệ thống đảng vốn đã mong manh của nó.